Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan về hệ thống Di sản văn hóa vật thể thuộc vùng đệm của Di sản thế giới Thành Nhà Hồ, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thực trạng hoạt động quản lý Di sản văn hóa vật thể thuộc vùng đệm của Di sản thế giới Thành Nhà Hồ, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Di sản văn hóa vật thể thuộc vùng đệm của Di sản thế giới Thành Nhà Hồ, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ VÙNG ĐỆM DI SẢN THÀNH NHÀ HỒ 1. Các khái niệm liên quan 1. Di sản văn hóa Theo tác giả Hoàng Phê cho rằng: “Di sản là cái thời trước để lại, còn văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [29, tr. Năm 1972, UNESCO ban hành Công ước Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới, trong điều 1 đã quy định những loại hình sẽ được coi như là “Di sản văn hóa” bao gồm: Di tích kiến trúc (monuments): Các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học.
Nhóm công trình xây dựng (groups of buildings): Các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết, do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học. Các di chỉ (Sites), các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người với thiên nhiên, cũng như những khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học [58, tr. Căn cứ vào khái niệm được nêu ra trong công ước, đối chiếu với công trình kiến trúc đền Và, có thể xếp đền Và là di tích kiến trúc nghệ thuật, có các tác phẩm điêu khắc, chạm khắc trên kết cấu kiến trúc, có các bia ký trong di tích đền Và có vị thế nhất định trong cảnh quan sinh thái, đó là khu rừng lim nguyên sinh - Sự kết hợp giữa kiến trúc và cảnh quan sinh thái tạo nên giá trị văn hóa thẩm mỹ. 12 Theo Luật DSVH được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã nêu rõ: DSVH bao gồm Di sản văn hóa phi vật thể và Di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam.
DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [30, tr. Từ khái niệm nêu ra trong luật DSVH, đối chiếu với đối tượng quản lý của luận văn, di tích đền Và thuộc loại hình Di sản văn hóa vật thể có giá trị đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia từ năm 1964. Tuy nhiên, tại di tích đền Và hàng năm còn diễn ra lễ hội, lễ hội đền Và có giá trị tiêu biểu, vì vậy, năm 2016, lễ hội đã được nhà nước công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Như vậy, có thể nhận định rằng, đền Và là Di sản văn hóa quốc gia cần có sự quan tâm của các cấp quản lý để bảo tồn lâu dài trong tổng thể Di sản văn hóa dân tộc. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nhiệm vụ thứ 04 là bảo tồn và phát huy các Di sản văn hóa. Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [3, tr.
Di sản văn hóa vật thể Được hiểu là những sản phẩm văn hóa tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể và có thể định lượng được về hình khối, kích thước, mầu sắc, phong cách tồn tại trong một không gian và thời gian xác định. Di sản văn hóa vật thể do con người, cộng đồng người sáng tạo và lưu truyền qua các thế hệ và mang đậm dấu ấn lịch sử, văn hóa của thế hệ sáng tạo ra nó. Di sản văn hóa vật thể cũng như các dạng thức vật thể khác luôn bị biến động trước những tác động của thời gian và con người cho nên DSVH vật thể luôn đứng trước nguy cơ bị biến dạng hoặc mất đi yếu tố gốc, tính chân thực của mình. do vậy với tư cách là những chủ nhân được trao truyền các giá trị vật chất, các thế hệ tiếp nối phải có trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo tồn các giá trị vật chất đó.
Ở nước ta, Luật Di sản văn hoá của Việt Nam quy định Di sản văn hoá vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [30]. Quản lý Di sản văn hóa Trước hết cần xác định quản lý DSVH và bảo tồn, phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa là hai phạm trù có những điểm tương đồng nhưng cũng có sự khác biệt. Bảo tồn DSVH là những hoạt động nghiên cứu, quản lý, bảo vệ nhằm đảm bảo tính toàn vẹn, tính xác thực và sự tồn tại lâu dài, ổn định của DSVH để phát huy giá trị. Hoạt động bảo tồn DSVH là một bộ môn khoa học, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn của khoa học đã được các chuyên gia quốc tế và quốc gia quan tâm từ rất sớm.
Quản lý DSVH là một khoa học riêng biệt đó là khoa học quản lý. Để quản lý DSVH (di tích và lễ hội) nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung, có hiệu quả cao cần áp dụng những nội dung, nguyên tắc và phương pháp của khoa học quản lý. Chính vì vậy, trong Luật DSVH ở điều 54 đã nêu rõ 08 nội dung quản lý nhà nước về DSVH cần nghiên cứu, áp dụng cụ thể, linh hoạt cho từng loại hình Di sản. Tuy nhiên để đạt được kết quả cao trong quản lý DSVH cần có sự phối hợp liên ngành thể hiện rõ vai trò của các bên liên quan trước hết là khoa học bảo tồn và khoa học quản lý.
14 Quản lý DSVH là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức điều hành các nội dung quản lý nhà nước về DSVH, làm cho các giá trị của các DSVH được phát huy theo chiều hướng tích cực. DSVH vật thể là một bộ phận quan trọng cấu thành DSVH, vì vậy việc quản lý DSVH vật thể cần thiết phải tiến hành theo nội dung quản lý nhà nước về DSVH được qui định tại Điều 54 của Luật DSVH do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2001, sửa đổi năm 2009 và được hợp nhất vào năm 2013. Các nội dung quản lý nhà nước về DSVH sẽ được áp dụng triệt để như các tiêu chí để khảo cứu thực trạng công tác quản lý DSVH ở vùng đệm của Di sản Thành Nhà Hồ, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Từ những nội dung nêu ra trên đây, tác giả luận văn đưa ra quan niệm về quản lý DSVH như sau: “Quản lý DSVH là những hoạt động hướng tới việc bảo tồn, gìn giữ các Di sản chống lại sự tàn phá của thiên nhiên, con người để từ đó thực hiện các hình thức khai thác, phát huy có hiệu quả các di tích góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội”.
Có thể hiểu cách khác “Quản lý DSVH là hoạt động của cơ quan quản lý các cấp và cộng động hướng tới việc bảo tồn, phát huy giá trị của Di sản góp phần vào sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội”. Nội dung quản lý nhà nước về Di sản văn hóa Di sản văn hóa vật thể là một bộ phận của DSVH, do vậy nội dung quản lý DSVH vật thể cũng bám sát các nội dung của quản lý DSVH. Nội dung quản lý nhà nước về DSVH được đề cập cụ thể tại Điều 54 và Điều 55. Tại Điều 54, Mục 1, chương 5 của Luật DSVH hợp nhất năm 2013, gồm 08 nội dung cơ bản sau đây: 1) Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; 2) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH; 3) Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị Di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về DSVH; 4) Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH; 15 5) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; 6) Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; 7) Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị Di sản văn hóa; 8) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH [30, tr.
Những nội dung quản lý tại Điều 54 và Điều 55 của Luật Di sản văn hóa đã cụ thể hóa được chức năng, nhiệm vụ quản lý về DSVH vật thể.