Tổng quan luận án
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, đặc biệt là các di tích quốc gia đặc biệt, luôn đối diện với bài toán cân bằng giữa việc gìn giữ nguyên trạng di tích và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tỉnh Quảng Trị sở hữu các di tích quốc gia đặc biệt lưu niệm những sự kiện lịch sử trọng đại, có ý nghĩa bước ngoặt trong cuộc kháng chiến giành độc lập và thống nhất đất nước ở thế kỷ XX. Mặc dù công tác quản lý di tích tại địa phương đã được quan tâm đầu tư, thực tế vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: việc phân cấp quản lý chưa phù hợp với yêu cầu tình hình mới; vai trò của các bên liên quan chưa được đánh giá đúng mực; tồn tại sự chồng chéo giữa các cơ quan quản lý; công tác chống xuống cấp, xử lý lấn chiếm đất đai, khoanh vùng bảo vệ di tích còn nhiều bất cập; hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa diễn ra thường xuyên; và lượng khách tham quan thu hút được chưa tương xứng với tiềm năng.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định rõ: các công trình trước đây tại Quảng Trị phần lớn tiếp cận dưới góc độ miêu tả lịch sử, tôn vinh chiến công, khảo tả hiện trạng kỹ thuật hoặc phân tích giá trị đơn lẻ của từng di tích, nhưng chưa có công trình khoa học chuyên biệt nào nghiên cứu một cách toàn diện về công tác quản lý các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh dưới góc độ khoa học quản lý và lý thuyết hệ thống.
Mục đích nghiên cứu của luận án là sử dụng lý thuyết hệ thống trong nghiên cứu quản lý di sản văn hóa, khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động của hai tiểu hệ thống quản lý vĩ mô và vi mô đối với các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị từ khi được xếp hạng đến cuối năm 2020; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý trong giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu được luận án xác định qua 5 nội dung:
- Tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, khái quát những nội dung cần tiếp tục làm rõ.
- Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận và hệ thống lý thuyết áp dụng trong đề tài luận án.
- Giới thiệu khái quát giá trị tiêu biểu của các di tích quốc gia đặc biệt là đối tượng nghiên cứu.
- Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động quản lý di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị nhằm chỉ rõ các thành tựu và hạn chế.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích quốc gia đặc biệt nói riêng và di tích lịch sử - văn hóa nói chung tại tỉnh Quảng Trị.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 3 câu hỏi:
- Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các tiểu hệ thống trong hệ thống quản lý các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị được xác định như thế nào? Việc phân công theo các chức năng nhiệm vụ đó đã phát huy hết hiệu quả hay chưa?
- Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng của hệ thống quản lý di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị đã cho thấy kết quả quản lý của các tiểu hệ thống ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chung của cả hệ thống như thế nào?
- Những hạn chế cụ thể bộc lộ trong quá trình quản lý là gì và cần có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả quản lý di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị?
Giả thuyết khoa học của luận án: Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị gồm 2 tiểu hệ thống quản lý vĩ mô và vi mô. Các tiểu hệ thống này hoạt động theo phân cấp chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, tuy nhiên trong quá trình vận hành đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế, làm ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chung của toàn bộ hệ thống; do đó cần có các giải pháp đồng bộ để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý.
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Khảo sát từ thời điểm các di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (năm 2013, 2014) đến cuối năm 2020.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại 3 di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, bao gồm: Di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải (thuộc huyện Vĩnh Linh và huyện Gio Linh); Di tích Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh (huyện Vĩnh Linh); Di tích Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972 (thị xã Quảng Trị, huyện Hải Lăng và huyện Triệu Phong). Luận án loại trừ di tích thứ tư là di tích Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh đoạn qua tỉnh Quảng Trị vì di tích này thuộc quyền quản lý chuyên biệt của Binh đoàn 12 (Bộ Quốc phòng), nằm ngoài hệ thống quản lý hành chính nhà nước cấp tỉnh mà đề tài khảo cứu.
- Phạm vi nội dung: Tập trung phân tích hệ thống tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ, cơ chế vận hành từ lát cắt quản lý cấp tỉnh trở xuống theo khung phân tích của lý thuyết hệ thống.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại các tài liệu nghiên cứu liên quan theo 3 hướng chính:
Hướng thứ nhất: Các nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa.
- Nghiên cứu quốc tế: Peter Howard trong Di sản: Quản lý diễn giải và bản sắc (Heritage: Management, Interpretation and Identity) chỉ ra quản lý di sản hình thành từ thế kỷ XIX và phân chia di sản thành thiên nhiên, cảnh quan, đài kỷ niệm, khu di tích, đồ tạo tác, hoạt động và con người; đồng thời đặt ra vấn đề bảo tồn cái gì, tại sao và cho ai. G. Larkham và Zhan Chang Yuan (Quản lý công nghiệp văn hóa) tiếp cận quản lý di sản như một ngành công nghiệp đặc thù, đòi hỏi chú trọng tài nguyên và nhân lực. Arthur Pedersen (Tài liệu hướng dẫn thực tiễn cho các nhà quản lý khu di sản trên thế giới) đề xuất các biện pháp khoanh vùng tương thích, giảm khách tham quan hoặc đóng cửa khu vực di sản trước áp lực du lịch. Brian Garrod và Alan Fyall nhấn mạnh sự cân bằng giữa bảo tồn và khai thác du lịch để duy trì tính bền vững.
- Nghiên cứu trong nước: Lưu Trần Tiêu (Mấy vấn đề hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa) xác định 3 mặt bảo tồn (pháp lý khoa học, vật chất kỹ thuật, sử dụng phục vụ xã hội) và 3 nội dung quản lý (xếp hạng, quản lý cổ vật, phân cấp). Đặng Văn Bài (Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn DSVH) nêu 4 nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước gồm văn bản pháp quy, phân cấp quản lý, hệ thống tổ chức ngành bảo tồn - bảo tàng và đầu tư ngân sách. Nguyễn Thế Hùng (Đề tài cấp bộ Bảo vệ DSVH trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế) đề xuất 6 nhóm giải pháp quản lý. Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế) phân tích quản lý di sản trên 2 khía cạnh quản lý nhà nước và phát triển sự nghiệp. Lê Hồng Lý (Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch) tập trung vào mối quan hệ giữa khai thác di sản và du lịch.
- Các công trình theo địa bàn và loại hình: Phạm Thị Thu Hương nghiên cứu bảo tồn di sản tại vùng công nghiệp hóa - đô thị hóa ở đồng bằng sông Hồng; Trần Đức Nguyên nghiên cứu quản lý di tích tại Bắc Ninh; Nguyễn Chí Bền chủ biên đề tài KX.09 về di sản Thăng Long - Hà Nội; Nguyễn Thị Thu Hà phân tích mối quan hệ giữa quản lý di sản và du lịch tại Hội An; Nguyễn Bá Linh (2018) nghiên cứu quản lý khu di sản Thành Nhà Hồ (Thanh Hóa); Hà Thúy Mai nghiên cứu quản lý di tích lịch sử cách mạng ATK Tân Trào, Định Hóa, Chợ Đồn dưới góc độ quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng. Lê Ngọc Dũng (1995) nghiên cứu quản lý và khai thác di tích trong cơ chế thị trường; Nguyễn Xuân Hồng (2020) vận dụng lý thuyết hệ thống và mô hình quản lý theo quá trình để nghiên cứu tu bổ chùa Việt ở Bắc Bộ.
Hướng thứ hai: Các công trình nghiên cứu về 3 di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị.
- Về Thành cổ Quảng Trị: Các nguồn sử liệu triều Nguyễn (Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ, Đồng Khánh dư địa chí); luận án tiến sĩ của Nguyễn Bình (2003) nghiên cứu thành Quảng Trị từ 1809 đến 1971 và sự kiện năm 1972; bài viết của Lê Đức Thọ (2009) về lỵ sở Quảng Trị thời Nguyễn và thuộc Pháp; bản vẽ sơ đồ thành năm 1889 của Nguyễn Thứ; các ấn phẩm quân sự và lịch sử của Văn Nhĩ (1982), Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1985, 2006), Tỉnh ủy Quảng Trị - Bộ Quốc phòng (2012), NXB Quân đội nhân dân (2011), Nguyễn Huy Hiệu (2008), Nguyễn Lộc (1990), Trần Thị Vinh (1982), Hữu Tiến (1991); các tài liệu lý lịch và hồ sơ xếp hạng di tích của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị (2004) và Trung tâm Bảo tồn Di tích và Danh thắng tỉnh Quảng Trị (2013).
- Về di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải: Các công trình nghiên cứu Hiệp định Genève và vĩ tuyến 17 của Tường Hữu (2004), Lưu Văn Lợi (2012), Vũ Dương Ninh (2004), Hoàng Chí Hiếu (2003, 2007, 2009, 2010 và Luận án Tiến sĩ năm 2012), Đào Trường San (2010), Vũ Kỳ Lân và Nguyễn Sinh (1978); luận văn thạc sĩ của Ôn Minh Hiếu Vy (2015); Hồ sơ xếp hạng di tích năm 1986 và Hồ sơ khoa học di tích quốc gia đặc biệt năm 2013.
- Về di tích Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh: Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thanh Tâm (2010); Đề tài khoa học cấp tỉnh do Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Quảng Trị thực hiện (năm 1999–2000, nghiệm thu năm 2000, thống kê 114 địa đạo); Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Sở Văn hóa – Thông tin (2004, 17 bài); Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị (2011, 19 bài); các hồ sơ khoa học xếp hạng di tích từ năm 1975 đến năm 2014.
| Nhóm công trình |
Đại diện tác giả / Tổ chức |
Trọng tâm nội dung đã công bố |
| Lý luận quản lý di sản và di tích |
Peter Howard, G. Larkham, Arthur Pedersen, Lưu Trần Tiêu, Đặng Văn Bài, Nguyễn Thế Hùng |
Khung lý thuyết bảo tồn, cân bằng khai thác du lịch, chức năng quản lý nhà nước và phân cấp. |
| Quản lý di tích tại các địa phương |
Phạm Thị Thu Hương, Trần Đức Nguyên, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Bá Linh, Hà Thúy Mai |
Thực trạng quản lý di tích cụ thể tại Bắc Ninh, Hội An, Thành Nhà Hồ, ATK; tác động đô thị hóa. |
| Vận dụng lý thuyết hệ thống |
Lê Ngọc Dũng (1995), Nguyễn Xuân Hồng (2020) |
Khung tổ chức bộ máy quản lý di tích, quản lý hoạt động tu bổ tôn tạo theo mô hình quá trình. |
| Nghiên cứu 3 di tích tại Quảng Trị |
Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Lịch sử Quân sự, Nguyễn Bình, Hoàng Chí Hiếu, Sở VHTT&DL |
Khảo tả lịch sử, kiến trúc, diễn biến chiến sự 1972, vĩ tuyến 17, hệ thống làng hầm và hồ sơ di tích. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Tổng quan cho thấy các nghiên cứu về 3 di tích tại Quảng Trị mới dừng lại ở việc làm sáng tỏ giá trị lịch sử, kiến trúc quân sự, diễn biến sự kiện hoặc kiểm kê kỹ thuật trong hồ sơ di tích; công tác quản lý chỉ được đề cập tản mát, manh mún trong các báo cáo nội bộ hoặc bài tham luận hội thảo. Chưa có nghiên cứu nào xem xét bộ máy quản lý các di tích quốc gia đặc biệt tại Quảng Trị như một chỉnh thể hệ thống gồm các tiểu hệ thống vĩ mô và vi mô, đồng thời đánh giá chức năng, nhiệm vụ và sự phối hợp giữa các cấp từ tỉnh đến cơ sở để xây dựng mô hình quản lý phù hợp với thực tiễn địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xác lập khung nghiên cứu dựa trên hệ thống các khái niệm và lý thuyết chuyên ngành:
Các khái niệm công cụ:
- Di sản văn hóa: Tiếp cận theo Điều 1 Công ước UNESCO 1972 (di tích kiến trúc, nhóm công trình, di chỉ) và Luật Di sản văn hóa Việt Nam (sửa đổi năm 2009), xác định di sản văn hóa gồm vật thể và phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Di tích lịch sử: Căn cứ Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10382:2014 và Luật Di sản văn hóa, là công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện tiêu biểu hoặc thân thế, sự nghiệp của nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc địa phương.
- Di tích cách mạng - kháng chiến: Tiếp thu quan điểm của Nguyễn Quốc Hùng (2012) và Phạm Xanh; tác giả luận án đưa ra định nghĩa: Di tích cách mạng – kháng chiến là những di tích có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học chứng minh cho quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc của đất nước từ đầu thế kỷ XX khi có sự xuất hiện của chủ nghĩa cộng sản với những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đấu tranh cho đến nay. 3 di tích nghiên cứu đều thuộc loại hình này.
- Di tích quốc gia đặc biệt: Căn cứ Khoản 3, Mục 10, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia.
- Quản lý và Quản lý di tích lịch sử văn hóa: Dựa trên Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước (Học viện Hành chính Quốc gia), quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể bằng các công cụ pháp luật, chính sách, tài chính, nhân lực. Từ đó, quản lý di tích quốc gia đặc biệt là sự định hướng, tổ chức điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích quốc gia đặc biệt của chủ thể quản lý bằng các công cụ quản lý nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích.
Khung lý thuyết:
Luận án áp dụng lý thuyết hệ thống do Ludwig Von Bertalanffy khởi xướng (năm 1940) và được Talcott Parsons phát triển (thập niên 1960). Luận án xem bộ máy quản lý di tích quốc gia đặc biệt tại Quảng Trị là một hệ thống toàn vẹn gồm các tiểu hệ thống cấu thành:
- Tiểu hệ thống quản lý vĩ mô: Gồm các cơ quan hoạch định và chỉ đạo chính sách (cấp trung ương, UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các sở ngành phối hợp).
- Tiểu hệ thống quản lý vi mô: Gồm các đơn vị trực tiếp thực thi quản lý tại điểm di tích (Trung tâm Quản lý Di tích và Bảo tàng tỉnh, Ban quản lý di tích tại các điểm, chính quyền cấp huyện, cấp xã và cộng đồng địa phương nơi có di tích).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và phân loại: Sử dụng để hệ thống hóa tài liệu lý luận, văn bản pháp quy; phân loại di tích, tổng hợp số liệu về nguồn lực, các dự án tu bổ và lượng khách tham quan.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức của khoa học quản lý, lịch sử học, văn hóa học, xã hội học và kinh tế học nhằm xem xét đối tượng quản lý di sản trong hệ quy chiếu phức hợp.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Thu thập số liệu, báo cáo chuyên môn tại các điểm di tích và các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Bảo tồn Di tích và Danh thắng).
- Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng kỹ thuật nghiên cứu định tính gồm quan sát thực địa, phỏng vấn sâu cá nhân và phỏng vấn nhóm tập trung đối với cán bộ quản lý, nhân viên khu di tích, du khách và cư dân địa phương sinh sống quanh khu vực khoanh vùng bảo vệ.
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Thu thập ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý văn hóa và bảo tồn di tích về cơ cấu tổ chức bộ máy và giải pháp phân cấp.
- Phương pháp mô hình hóa: Khái quát hóa thực tiễn để thiết lập mô hình quản lý tối ưu cho di tích quốc gia đặc biệt từ lát cắt cấp tỉnh.
- Phương pháp so sánh: So sánh mô hình quản lý di tích quốc gia đặc biệt tại Quảng Trị với một số mô hình quản lý di tích tương đương ở Việt Nam để nhận diện ưu điểm và hạn chế.
Nguồn tư liệu, dữ liệu:
Luận án khai thác hệ thống văn bản pháp quy; hồ sơ khoa học xếp hạng di tích lưu trữ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị (hồ sơ các năm 1975, 1986, 2010, 2013, 2014); các báo cáo tổng kết ngành văn hóa giai đoạn 2013–2020; dữ liệu điều tra định tính từ phỏng vấn các nhóm chủ thể quản lý và người dân.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục luận án gồm 3 chương nội dung:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về quản lý di tích quốc gia đặc biệt, khái quát về các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị
Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, xác lập cơ sở lý thuyết hệ thống và các khái niệm công cụ, đồng thời khảo tả lịch sử, hiện trạng và giá trị của 3 di tích quốc gia đặc biệt:
- Di tích Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972:
- Lịch sử hình thành: Được khởi dựng từ năm 1809 dưới thời vua Gia Long (đắp bằng đất), đến năm 1837 thời vua Minh Mạng được xây lại bằng gạch. Thành tồn tại 28 năm xây dựng ban đầu, 27 năm đắp đất, 135 năm kiên cố bằng gạch (1837–1972). Dưới thời thuộc Pháp và chế độ Sài Gòn (đổi tên thành Đinh Công Tráng), kiến trúc nội thành bị biến đổi công năng thành trại lính, nhà lao, kho vũ khí.
- Kiến trúc và hiện trạng: Cấu trúc phòng thành hình vuông kiểu Vauban, chu vi 2.160m; 4 góc có 4 pháo đài nhô ra; 4 cửa Tiền (Nam), Hậu (Bắc), Tả (Đông), Hữu (Tây) có cầu vòm cuốn bắc qua hào thành kết nối sông Thạch Hãn. Trong cuộc chiến đấu 81 ngày đêm (28/6/1972 – 16/9/1972), quân đội Mỹ đã trút xuống 80 vạn tấn bom đạn trên diện tích 3 km2 (khối lượng nổ tương đương 7 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima), phá hủy hầu như hoàn toàn nội thành, chỉ còn lại dấu vết một số đoạn tường gạch và hai cổng Tiền, Hậu loang lổ vết đạn. Cụm di tích bao gồm Thành cổ và các điểm chốt: Ngã ba Long Hưng và nhà thờ Long Hưng, nhà thờ Tri Bưu, Trường Bồ Đề, Chốt Long Quang, Chốt Ngô Xá Tây, Bến sông Thạch Hãn.
- Giá trị và xếp hạng: Di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013; mang giá trị biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sự hy sinh to lớn và biểu tượng tâm linh hòa hợp dân tộc.
- Di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải:
- Lịch sử và cấu trúc: Gắn liền với sự kiện ký kết Hiệp định Genève (20/7/1954), sông Bến Hải tại vĩ tuyến 17 trở thành giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt đất nước gần 20 năm.
- Địa bàn phân bố: Thuộc huyện Vĩnh Linh (xã Vĩnh Thành, Vĩnh Giang, Vĩnh Sơn, thị trấn Cửa Tùng) và huyện Gio Linh (xã Trung Hải). Các hạng mục chính gồm: Cầu Hiền Lương, Cột cờ Hiền Lương, Đồn công an Cửa Tùng, Đồn công an Hiền Lương, Nhà liên hợp, trạm gác và hệ thống dàn loa phóng thanh đôi bờ. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1986 và xếp hạng quốc gia đặc biệt năm 2013.
- Di tích Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh:
- Quá trình xây dựng: Hình thành từ chủ trương "công sự hóa toàn dân, quân sự hóa toàn khu vực" của Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh. Giai đoạn 1955–1960 xuất hiện hầm chữ A, hầm ếch; tháng 9/1966 thành lập Ban chỉ đạo đào địa đạo gồm 5 người do đồng chí Nguyễn Khiếu làm Trưởng ban. Tính đến năm 1968, toàn huyện hoàn thành 114 địa đạo với chiều dài trên 40km, hơn 2.000km giao thông hào phân bố tại 15/22 xã, thị trấn.
- Cấu trúc kỹ thuật: Tuyến đường trục chính dài từ 300m đến 700m, hình vòm cao 1,6m – 1,7m, rộng 0,8m – 1,1m; thiết kế ngoằn ngoèo theo hình chữ Z hoặc vòng cung tạo trụ đất chịu lực, cản sức ép bom khoan, bom đào; hai bên chân tường khoét rãnh thoát nước. Hệ thống tích hợp căn hộ sinh hoạt, hội trường, kho lương thảo, giếng nước, bếp, trạm phẫu thuật.
- Phân nhóm chức năng: Gồm 4 nhóm (phục vụ sinh hoạt cư dân; phục vụ cơ quan nhà nước; phục vụ chỉ huy dân quân xã; phục vụ lực lượng vũ trang chủ lực).
- Dữ liệu lịch sử: Trong gần 2.000 ngày đêm bám trụ dưới lòng đất, thời điểm đông nhất có 1.200 người sinh sống, 63 đứa trẻ được sinh ra an toàn; phục vụ bắn rơi 293 máy bay, bắn chìm/cháy 69 tàu chiến; huy động hơn 10.000 ngày công tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ và chuyển hơn 1.000 lượt bộ đội, dân quân cùng hàng chục vạn tấn khí tài vào chiến trường miền Nam (1965–1968).
| Tên di tích quốc gia đặc biệt |
Địa bàn hành chính |
Niên đại / Thời điểm hình thành chính |
Quy mô / Thông số kỹ thuật |
Căn cứ pháp lý xếp hạng QGĐB |
| Thành cổ Quảng Trị và các địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm |
Thị xã Quảng Trị, Huyện Hải Lăng, Huyện Triệu Phong |
Khởi dựng 1809 (thành đất), xây gạch 1837; sự kiện chiến đấu 81 ngày đêm năm 1972 |
Chu vi tường thành 2.160m; diện tích trọng điểm 3 km2; gồm 7 điểm di tích thành phần |
Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013 |
| Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải |
Huyện Vĩnh Linh (4 xã/thị trấn), Huyện Gio Linh (1 xã) |
Thiết lập sau Hiệp định Genève (20/7/1954); duy trì đến 1975 |
Trải dài hai bờ sông Bến Hải; gồm cầu, cột cờ, đồn công an, nhà liên hợp, dàn loa |
Hồ sơ khoa học QGĐB năm 2013 (Bộ VHTT&DL thẩm định) |
| Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh |
Huyện Vĩnh Linh (phân bố trên 15 xã, thị trấn) |
Xây dựng trọng điểm 9/1966 – 1968; duy trì đến 1972 |
114 địa đạo (>40km), >2.000km hào; hầm vòm cao 1,6–1,7m, rộng 0,8–1,1m hình chữ Z |
Hồ sơ khoa học xếp hạng QGĐB năm 2014 |
Đặc điểm quản lý chung của 3 di tích:
Cả 3 di tích đều thuộc loại hình lưu niệm sự kiện lịch sử cận hiện đại; có quy mô diện tích lớn, địa hình phức tạp và phân bố xen kẽ với các khu dân cư đang sinh sống. Đặc điểm này tạo ra thách thức lớn trong việc khoanh vùng bảo vệ theo Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP và Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL khi nhiều khu vực bảo vệ I không thể lập khu vực bảo vệ II hoặc xảy ra xung đột sử dụng đất với người dân.
Chương 2: Thực trạng quản lý các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng công tác quản lý đối với 3 di tích quốc gia đặc biệt trong giai đoạn từ khi xếp hạng (2013, 2014) đến cuối năm 2020 trên hai cấp độ:
Thực trạng hoạt động của tiểu hệ thống quản lý vĩ mô:
- Công tác ban hành văn bản chỉ đạo: UBND tỉnh Quảng Trị và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành các đề án, kế hoạch quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Tuy nhiên, các văn bản quy định phân cấp quản lý còn thiếu tính đồng bộ; cơ chế phối hợp liên ngành giữa ngành văn hóa với tài nguyên - môi trường, xây dựng, tài chính và chính quyền các huyện, thị xã chưa chặt chẽ.
- Công tác quy hoạch và khoanh vùng bảo vệ: Việc lập hồ sơ cắm mốc giới bảo vệ di tích tại thực địa còn chậm trễ. Tình trạng di tích nằm xen cài trong khu dân cư dẫn đến tranh chấp đất đai, lấn chiếm hành lang bảo vệ tại Vịnh Mốc và Thành cổ Quảng Trị.
Thực trạng hoạt động của tiểu hệ thống quản lý vi mô:
- Bộ máy quản lý trực tiếp: Trung tâm Quản lý Di tích và Bảo tàng tỉnh Quảng Trị cùng các tổ quản lý điểm di tích thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, thuyết minh, đón tiếp khách tham quan. Đội ngũ cán bộ, nhân viên còn mỏng, thiếu hụt chuyên gia bảo quản học chuyên sâu đối với công sự ngầm (địa đạo) và phế tích kiến trúc gạch (Thành cổ).
- Công tác tu bổ, chống xuống cấp: Các dự án tôn tạo đã phục hồi một số hạng mục (như cầu Hiền Lương, nhà bảo tàng Thành cổ), song hệ thống địa đạo Vĩnh Linh đối diện với nguy cơ sụt lún cơ học do địa chất và thiên tai lũ lụt; phần lớn trong số 114 địa đạo đã bị bồi lấp, chỉ có địa đạo Vịnh Mốc và địa đạo Hiền Dũng giữ được khả năng đón khách.
- Hoạt động phát huy giá trị và dịch vụ du lịch: Nguồn thu từ phí tham quan chưa tương xứng; các sản phẩm du lịch hoài niệm, giáo dục truyền thống chưa phong phú; công tác xã hội hóa thu hút các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách còn hạn chế; hoạt động kiểm tra, thanh tra chuyên ngành chưa diễn ra định kỳ.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý cho các di tích quốc gia đặc biệt trong thời gian tới
Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng ở Chương 2, Chương 3 xây dựng các nhóm giải pháp có tính hệ thống nhằm giải quyết các mắt xích yếu:
- Hoàn thiện thể chế và cơ chế phân cấp quản lý: Rà soát, sửa đổi quy chế phân cấp quản lý di tích trên địa bàn tỉnh; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Quản lý Di tích với UBND cấp huyện, xã; loại bỏ tình trạng chồng chéo chức năng.
- Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành và quản lý đất đai: Đẩy nhanh tiến độ đo đạc, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các khu vực di tích; giải quyết dứt điểm các trường hợp lấn chiếm đất đai; lập phương án di dời các hộ dân nằm trong khu vực bảo vệ I (điển hình là 4 hộ dân tại thôn Vịnh Mốc).
- Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực: Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý tại các điểm di tích theo hướng chuyên nghiệp hóa; tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng bảo tồn di sản học, nghiệp vụ thuyết minh và ngoại ngữ cho đội ngũ viên chức.
- Tăng cường nguồn lực tài chính và đẩy mạnh xã hội hóa: Kết hợp nguồn vốn ngân sách nhà nước với các nguồn tài trợ hợp pháp; xây dựng cơ chế tái đầu tư nguồn thu từ vé tham quan cho công tác duy tu, bảo dưỡng thường xuyên.
- Cân bằng giữa bảo tồn nguyên trạng và phát triển du lịch bền vững: Xây dựng các tuyến du lịch chuyên đề gắn kết 3 di tích; kiểm soát sức chứa của điểm đến (đặc biệt trong lòng địa đạo Vịnh Mốc); tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất việc thực thi pháp luật về di sản văn hóa.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học:
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tiếp cận công tác quản lý các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị một cách có hệ thống.
- Vận dụng lý thuyết hệ thống để thiết lập khung phân tích, tách bạch chức năng của tiểu hệ thống quản lý vĩ mô và tiểu hệ thống quản lý vi mô từ cấp tỉnh trở xuống, chỉ ra cơ chế tương tác và những điểm nghẽn trong vận hành bộ máy quản lý di sản tại địa phương.
- Làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Quản lý văn hóa, Di sản học tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Tổng hợp và phản ánh bức tranh thực trạng công tác quản lý tại 3 di tích quốc gia đặc biệt (Thành cổ Quảng Trị, Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, Địa đạo Vịnh Mốc) trong giai đoạn 2013–2020; chỉ rõ các mặt đạt được cùng các bất cập về phân cấp, đất đai, nhân lực và tu bổ di tích.
- Đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức quản lý có giá trị ứng dụng trực tiếp, cung cấp luận cứ khoa học để Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị cùng UBND tỉnh ban hành các quyết định điều chỉnh quy chế phân cấp và nâng cao hiệu quả bảo vệ, khai thác di tích.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế:
- Luận án chỉ giới hạn khảo sát trên 3 di tích quốc gia đặc biệt do ngành văn hóa địa phương trực tiếp quản lý, chưa mở rộng nghiên cứu di tích Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh do đặc thù di tích này trực thuộc quyền quản lý của Binh đoàn 12 (Bộ Quốc phòng).
- Khung thời gian khảo sát thực tiễn kết thúc vào cuối năm 2020, chưa bao quát được các biến động quản lý và việc thực thi các văn bản quy phạm pháp luật mới trong giai đoạn sau năm 2020.
- Khảo sát bộ máy dừng lại ở lát cắt quản lý từ cấp tỉnh trở xuống, chưa nghiên cứu sâu các mối quan hệ quản trị quốc tế trong bảo tồn di sản chiến tranh.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý nhà nước dân sự và lực lượng quân đội trong quản lý các di tích lịch sử quân sự liên tỉnh (như hệ thống di tích Đường Trường Sơn).
- Khảo sát, đánh giá hiệu quả của các mô hình quản lý di sản sau năm 2020 dưới tác động của chuyển đổi số và phát triển kinh tế ban đêm tại Quảng Trị.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Lãnh đạo và chuyên viên của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, Trung tâm Quản lý Di tích và Bảo tàng tỉnh, UBND các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị có thể sử dụng các kết quả đánh giá thực trạng và hệ thống giải pháp để điều chỉnh quy chế phân cấp, lập phương án quy hoạch đất đai và bảo vệ di tích.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Công trình là tài liệu tham khảo về cách thức vận dụng lý thuyết hệ thống vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể của khoa học quản lý văn hóa.
- Đối với giảng viên: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng và số liệu khảo tả chi tiết về hệ thống di tích kháng chiến chống Mỹ tại miền Trung phục vụ công tác giảng dạy các học phần Quản lý di sản văn hóa, Bảo tàng học và Xã hội học văn hóa.
Câu hỏi thường gặp
-
Vì sao luận án không đưa di tích Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh vào diện khảo sát thực tế dù đây là di tích quốc gia đặc biệt tại Quảng Trị?
Di tích Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị thuộc quyền quản lý chuyên biệt của Binh đoàn 12 (Bộ Quốc phòng), cơ quan được Đảng, Nhà nước và Quân đội giao trọng trách khảo sát, phục hồi và bảo tồn. Xét dưới góc độ quản lý hành chính nhà nước của địa phương, đơn vị này nằm ngoài hệ thống phân cấp quản lý từ cấp tỉnh trở xuống mà luận án tập trung làm rõ, vì vậy tác giả giới hạn khảo sát ở 3 di tích thuộc quản lý của ngành văn hóa tỉnh.
-
Hệ thống địa đạo Vĩnh Linh có quy mô kỹ thuật và kết cấu như thế nào theo số liệu điều tra?
Theo số liệu đề tài khoa học cấp tỉnh năm 2000 được dẫn lại trong luận án, toàn khu vực Vĩnh Linh có 114 địa đạo với tổng chiều dài trên 40km, hơn 2.000km giao thông hào phân bố tại 15 xã, thị trấn. Trục chính địa đạo dài trung bình 300m – 700m, vòm hầm cao 1,6m – 1,7m, rộng 0,8m – 1,1m, đào theo hình chữ Z hoặc vòng cung để tạo trụ đất chịu lực và chống bom khoan; bên trong tích hợp căn hộ, hội trường, giếng nước, bếp và kho lương thực.
-
Lý thuyết hệ thống được vận dụng như thế nào trong việc phân tích bộ máy quản lý di tích ở Quảng Trị?
Luận án xem bộ máy quản lý là một hệ thống toàn thể bao gồm hai tiểu hệ thống cấu thành: tiểu hệ thống vĩ mô (cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, các sở ngành liên quan với chức năng ban hành chính sách, quy hoạch, thanh tra) và tiểu hệ thống vi mô (các đơn vị sự nghiệp trực tiếp tại di tích, ban quản lý điểm, chính quyền cấp xã, huyện và cộng đồng dân cư). Khung phân tích này cho phép đánh giá mức độ tương thích giữa việc phân định chức năng với kết quả vận hành thực tế.
-
Cụm di tích Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972 gồm những địa điểm thành phần nào?
Cụm di tích phân bố tại thị xã Quảng Trị, huyện Hải Lăng và huyện Triệu Phong, bao gồm: Thành cổ Quảng Trị, Ngã ba Long Hưng và nhà thờ Long Hưng, nhà thờ Tri Bưu, Trường Bồ Đề, Chốt Long Quang, Chốt Ngô Xá Tây và Bến sông Thạch Hãn. Trong đó, Thành cổ và Bến sông Thạch Hãn là hai địa điểm lưu niệm trung tâm.
-
Tác giả luận án đưa ra định nghĩa về "di tích cách mạng – kháng chiến" như thế nào?
Tác giả định nghĩa: Di tích cách mạng – kháng chiến là những di tích có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học chứng minh cho quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc của đất nước từ đầu thế kỷ XX khi có sự xuất hiện của chủ nghĩa cộng sản với những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đấu tranh cho đến nay.
Kết luận
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về công tác quản lý 3 di tích quốc gia đặc biệt tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2013–2020 trên nền tảng lý thuyết hệ thống. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận, khảo tả chi tiết hiện trạng kỹ thuật, đồng thời chỉ ra những điểm nghẽn trong hoạt động của hai tiểu hệ thống quản lý vĩ mô và vi mô tại địa phương. Hệ thống giải pháp được đề xuất tập trung vào kiện toàn bộ máy, hoàn thiện phân cấp, xử lý dứt điểm bất cập đất đai và hài hòa giữa bảo tồn di tích với phát triển du lịch. Công trình cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng và luận cứ quản lý có giá trị cho ngành văn hóa và các cấp chính quyền tỉnh Quảng Trị.