Tổng quan về luận án
Nghiên cứu về quản lý di sản văn hóa, đặc biệt là di sản phi vật thể và vật thể thời kỳ cận - hiện đại, đóng vai trò then chốt trong việc định hình bản sắc văn hóa và thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương. Tỉnh Quảng Trị là không gian lịch sử đặc biệt tiêu biểu của thế kỷ XX, nơi diễn ra những biến cố lịch sử mang tính bước ngoặt gắn liền với cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước. Sự tồn tại của các di tích lưu niệm sự kiện lịch sử quân sự mang tầm vóc quốc tế đã tạo nên một cảnh quan văn hóa chiến tranh độc nhất vô nhị. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa với đề tài "Quản lý các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị" là công trình nghiên cứu tiên phong áp dụng cách tiếp cận liên ngành và lý thuyết hệ thống để mổ xẻ toàn diện cơ chế vận hành, bảo tồn và phát huy giá trị của cụm di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu cấp quốc gia.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) lớn nhất được xác định là sự thiếu vắng các công trình đánh giá tổng thể hệ thống quản lý di tích từ góc độ khoa học quản lý hiện đại. Trước đây, các nghiên cứu của Nguyễn Bình (2003), Lê Đức Thọ (2009), hay Hoàng Chí Hiếu (2012) chủ yếu tiếp cận dưới góc độ lịch sử, sử liệu học, khảo tả kiến trúc hoặc phục dựng chiến dịch quân sự đơn lẻ. Mặt khác, các công trình của Lưu Trần Tiêu (2002) và Đặng Văn Bài (2002) chỉ đề cập nguyên lý quản lý di sản nhà nước ở tầm vĩ mô. Do đó, cơ chế tương tác cấu trúc - chức năng giữa các tiểu hệ thống quản lý di tích cấp tỉnh và cơ sở tại Quảng Trị chưa từng được giải mã một cách thực nghiệm.
Luận án đặt ra và giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và 1 giả thuyết khoa học cốt lõi:
- RQ1: Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các tiểu hệ thống trong hệ thống quản lý các di tích quốc gia đặc biệt (QGĐB) ở tỉnh Quảng Trị được phân định như thế nào và mức độ tương thích thực thi ra sao?
- RQ2: Kết quả vận hành của các tiểu hệ thống vĩ mô và vi mô tác động như thế nào đến hiệu quả quản lý tổng thể của toàn hệ thống di tích?
- RQ3: Những điểm nghẽn, xung đột thể chế nào đang cản trở công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích và giải pháp đồng bộ nào có thể tối ưu hóa hệ thống này trong bối cảnh mới?
- Giả thuyết nghiên cứu ($H_1$): Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý di tích QGĐB tỉnh Quảng Trị bao gồm hai tiểu hệ thống vĩ mô và vi mô; sự mất cân đối về chức năng, chồng chéo thẩm quyền và đứt gãy tương tác giữa các tiểu hệ thống này là nguyên nhân căn bản làm suy giảm hiệu lực bảo tồn và hiệu quả kinh tế - văn hóa của di tích.
Khung lý thuyết của luận án tích hợp Lý thuyết hệ thống tổng quát (General Systems Theory) của Ludwig von Bertalanffy với Lý thuyết quản trị di sản bền vững của Peter Howard (2003) và Arthur Pedersen (2002). Phạm vi khảo sát tập trung vào 3 di tích QGĐB tiêu biểu tại Quảng Trị từ khi xếp hạng đến hết năm 2020:
- Di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải (huyện Vĩnh Linh và Gio Linh);
- Di tích Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh (huyện Vĩnh Linh);
- Di tích Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972 (thị xã Quảng Trị, huyện Hải Lăng và Triệu Phong).
Di tích Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh không thuộc phạm vi phân tích do trực thuộc thẩm quyền quản lý quốc phòng của Binh đoàn 12. Ý nghĩa nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học để tái cấu trúc mô hình quản lý di sản chiến tranh tại Việt Nam.
Literature Review và Positioning
Lịch sử nghiên cứu quản lý di sản văn hóa trên thế giới ghi nhận bước chuyển dịch từ bảo tồn tĩnh học sang quản trị tích hợp. Peter Howard (2003) trong công trình Heritage: Management, Interpretation and Identity khẳng định quản lý di sản hiện đại là chuỗi quyết định mang tính chính trị - xã hội nhằm giải quyết ba câu hỏi nền tảng: bảo tồn cái gì, tại sao và cho ai. Trái lại, các học giả như G. Larkham (1995) và Zhan Chang Yuan (2003) tiếp cận di sản dưới góc độ công nghiệp văn hóa, coi di sản là nguồn lực tài nguyên đặc thù đòi hỏi các phương thức quản trị tương tự ngành kinh tế dịch vụ.
Cuộc tranh luận học thuật trung tâm xoay quanh việc hóa giải mâu thuẫn giữa "bảo tồn nguyên gốc" (authenticity conservation) và "khai thác thương mại" (commercial exploitation). Arthur Pedersen (2002) trong tài liệu hướng dẫn quản lý di sản thế giới của UNESCO cảnh báo nguy cơ hủy hoại di sản từ du lịch đại chúng và đề xuất công cụ phân vùng sức chứa (carrying capacity). Đồng thuận với quan điểm này, Brian Garrod và Alan Fyall (2000) nhấn mạnh nguyên tắc cân bằng sinh thái - văn hóa: nếu việc khai thác làm xói mòn tính nguyên vẹn của di tích thì giá trị kinh tế của chính di sản đó cũng sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu quản lý văn hóa đã hình thành hai nhánh chính:
- Nhánh quản lý thể chế vĩ mô: Lưu Trần Tiêu (2002), Đặng Văn Bài (2002), Nguyễn Thế Hùng (2010), Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (2012) tập trung vào công tác lập pháp, phân cấp quản lý nhà nước và xã hội hóa nguồn lực.
- Nhánh quản trị di sản ứng dụng theo địa bàn: Lê Hồng Lý (2014) khảo sát di sản gắn với du lịch; Phạm Thị Thu Hương (2011) và Trần Đức Nguyên (2016) nghiên cứu tác động của đô thị hóa tại Đồng bằng sông Hồng và Bắc Ninh; Nguyễn Thị Thu Hà (2014) mổ xẻ mô hình quản lý di sản gắn với du lịch tại Đô thị cổ Hội An; Nguyễn Bá Linh (2018) và Hà Thúy Mai (2019) nghiên cứu thực trạng quản lý tại Di sản thế giới Thành Nhà Hồ và Di tích lịch sử ATK Tân Trào.
HỆ THỐNG QUẢN LÝ DI TÍCH QGĐB
Công trình này định vị chính xác khoảng trống học thuật bằng việc phân tích chuyên sâu loại hình di tích lịch sử cách mạng quy mô lớn, địa bàn phân tán và cấu trúc phi vật thể phức tạp. Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế về di sản chiến tranh như công trình của Scates & Wheatley (2016) về chiến trường Verdun (Pháp) hay Kim & Prideaux (2003) về Khu phi quân sự DMZ (Hàn Quốc), luận án cho thấy tính đặc thù của Quảng Trị: di tích không chỉ là chiến địa tĩnh mà là "làng chiến đấu ngầm", "nấm mồ tập thể tâm linh" đan cài trực tiếp trong không gian sinh hoạt của cộng đồng cư dân đương đại.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết Hệ thống tổng quát của Ludwig von Bertalanffy vào lĩnh vực quản trị công sản văn hóa đặc thù tại một quốc gia đang phát triển. Thay vì xem di tích là một tập hợp tĩnh các hiện vật và công trình kiến trúc, luận án tái định nghĩa di tích QGĐB là một "hệ thống mở phức hợp" (complex open system) bao gồm các thực thể thể chế, dòng vật chất (ngân sách, hạ tầng), dòng thông tin (diễn giải lịch sử, giáo dục) và dòng tương tác xã hội (cộng đồng địa phương, du khách, cựu chiến binh).
Mô hình lý thuyết đề xuất cấu trúc phân tầng rõ nét:
- Mệnh đề 1 ($P_1$): Hiệu năng của hệ thống di sản tỷ lệ thuận với mức độ đồng bộ hóa thông tin và phân định ranh giới chức năng giữa tiểu hệ thống vĩ mô (hoạch định, kiểm soát) và tiểu hệ thống vi mô (vận hành, bảo quản).
- Mệnh đề 2 ($P_2$): Các di tích cách mạng mang giá trị phi vật thể áp đảo (ký ức bi tráng, biểu tượng hòa hợp dân tộc) đòi hỏi cơ chế quản trị đa mục tiêu, trong đó mục tiêu "duy trì tính thiêng" phải giữ vai trò chi phối mục tiêu "tối ưu hóa thương mại".
KHUNG PHÂN TÍCH HỆ THỐNG
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp 4 trường phái lý thuyết:
- Lý thuyết hệ thống (Bertalanffy) làm khung kiến trúc;
- Lý thuyết quản trị di sản (Howard, Pedersen) làm nguyên tắc định hướng;
- Xã hội học văn hóa làm phương pháp tiếp cận chủ thể;
- Khoa học hành chính công làm công cụ phân tích phân cấp thẩm quyền.
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập chặt chẽ: áp dụng cho các di tích lịch sử cách mạng cận - hiện đại có quy mô liên huyện, mức độ hư hại chiến tranh cao, sở hữu giá trị tâm linh - tưởng niệm sâu sắc và vận hành trong điều kiện kinh tế địa phương còn hạn chế về ngân sách tự chủ.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng lập trường nhận thức luận của Chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism) kết hợp Chủ nghĩa thực dụng (Pragmatism), cho phép giải mã cả cấu trúc cơ chế quản lý khách quan lẫn các tầng nghĩa biểu tượng chủ quan của di sản. Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (mixed-methods design) theo mô hình song song hội tụ được triển khai để đảm bảo độ tin cậy khoa học cao nhất.
Thiết kế đa cấp độ (multi-level design) được cấu trúc hóa:
- Cấp độ vĩ mô (Tỉnh): Đánh giá năng lực ban hành chính sách, phân bổ ngân sách và thanh tra của UBND tỉnh Quảng Trị và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL).
- Cấp độ vi mô (Ban Quản lý & Điểm di tích): Khảo sát trực tiếp Trung tâm Bảo tồn Di tích và Danh thắng Quảng Trị (nay là Ban Quản lý Di tích và Bảo tàng tỉnh) cùng 3 cụm di tích thành phần.
- Cấp độ cộng đồng - du khách: Đánh giá mức độ hưởng thụ, tác động sinh kế và trải nghiệm thực tế.
QUY TRÌNH THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập dữ liệu áp dụng nguyên tắc tam giác đạc (Triangulation) nghiêm ngặt:
- Tam giác đạc nguồn dữ liệu: Kết hợp dữ liệu văn bản hành chính (Quyết định số 2383/QĐ-TTg, các hồ sơ khoa học di tích năm 1975, 1986, 2013, 2014 lưu tại Sở VHTT&DL), dữ liệu thống kê kinh tế - du khách (2013–2020), và dữ liệu quan sát trực tiếp.
- Nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm với 3 nhóm đối tượng: (1) Cán bộ quản lý văn hóa cấp tỉnh, huyện; (2) Viên chức, thuyết minh viên tại điểm di tích; (3) Cư dân bản địa sinh sống trong vùng bảo vệ và cựu chiến binh.
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Tổ chức các cuộc làm việc khoa học với các chuyên gia đầu ngành thuộc Hội Di sản Văn hóa Việt Nam, Cục Di sản Văn hóa nhằm kiểm chứng tính khả thi của các mô hình tổ chức bộ máy.
- Tiêu chí chọn mẫu: 3 cụm di tích được lựa chọn đại diện tuyệt đối cho 3 loại hình biểu tượng: Di tích ranh giới - chia cắt và thống nhất (Hiền Lương – Bến Hải); Di tích làng chiến đấu ngầm - nghệ thuật quân sự nhân dân (Địa đạo Vịnh Mốc); Di tích chiến trường đô thị - không gian tưởng niệm linh thiêng (Thành cổ Quảng Trị). Loại trừ di tích Đường Trường Sơn theo tiêu chí ranh giới quyền tài phán hành chính.
Data và phân tích
Dữ liệu định lượng và hồ sơ thực địa được phân tích chi tiết:
- Dữ liệu quy mô di tích: 114 địa đạo với tổng chiều dài hơn 40 km, hơn 2.000 km giao thông hào phân bố tại 15/22 xã, thị trấn huyện Vĩnh Linh; chu vi tường thành Quảng Trị 2.160 m trên diện tích 3 km² chịu sức công phá của 80 vạn tấn bom (tương đương năng lượng 7 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima).
- Xử lý dữ liệu định tính thông qua kỹ thuật phân tích nội dung (Content Analysis), phân loại ma trận SWOT và PESTLE thể chế, đối chiếu chuẩn hóa theo Luật Di sản văn hóa (2001, sửa đổi 2009) và Nghị định số 98/2010/NĐ-CP.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Công trình chỉ ra 5 phát hiện then chốt với bằng chứng thực nghiệm rõ ràng:
- Sự đứt gãy và chồng chéo giữa hai tiểu hệ thống quản lý: Luận án phát hiện tình trạng phân cấp quản lý bất cập. Sở VHTT&DL quản lý nhà nước, Ban Quản lý Di tích và Bảo tàng tỉnh quản lý chuyên môn trực tiếp, nhưng chính quyền cấp huyện/xã lại nắm quyền quản lý đất đai và an ninh trật tự khu vực phụ cận. Sự thiếu vắng quy chế phối hợp liên ngành dẫn đến việc xử lý lấn chiếm đất đai di tích bị đình trệ kéo dài.
- Xung đột gay gắt giữa bảo vệ vùng lõi và sinh kế dân cư: Tại Di tích Địa đạo Vịnh Mốc, hồ sơ năm 2014 ghi nhận còn tồn tại 4 hộ dân sinh sống ngay trong khu vực bảo vệ I chưa thể di dời do thiếu hụt quỹ đất tái định cư và kinh phí bồi thường. Tại Thành cổ Quảng Trị và các điểm lưu niệm 81 ngày đêm (như chốt Ngô Xá Tây, chốt Long Quang, Trường Bồ Đề), ranh giới bảo vệ bị đan cài sâu trong khu dân cư đô thị, dẫn đến tình trạng xâm lấn hành lang bảo vệ di tích.
- Nghịch lý "tài nguyên văn hóa vô giá - hiệu quả khai thác kinh tế thấp": Mặc dù mang giá trị lịch sử tầm cỡ thế giới với biểu tượng "làng trong hầm" duy trì sự sống cho 1.200 người và chào đón 63 em bé ra đời trong lòng đất suốt 2.000 ngày đêm chiến tranh, các di tích vẫn vận hành ở dạng tham quan thuần túy, thiếu các sản phẩm du lịch trải nghiệm số hóa hoặc chuỗi dịch vụ gia tăng. Doanh thu từ vé tham quan chưa tương xứng với chi phí duy tu bảo dưỡng.
- Sự xuống cấp nghiêm trọng dưới tác động kép của chiến tranh và thiên tai: Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh bị đe dọa thường xuyên bởi sạt lở địa chất, sụt lún vòm hầm sau các đợt bão lũ nhiệt đới. Phần lớn 114 địa đạo khảo sát từ năm 2000 đã bị bồi lấp cửa hầm, chỉ duy nhất địa đạo Vịnh Mốc và 2 địa đạo tại Hiền Dũng giữ được khả năng bảo tồn và khai thác phục vụ du khách.
- Tính thiêng liêng phi vật thể vượt trội cấu trúc vật thể: Tại Thành cổ Quảng Trị, toàn bộ công trình kiến trúc triều Nguyễn đã bị san phẳng trong 81 ngày đêm năm 1972; giá trị cốt lõi của di tích không nằm ở các bức tường thành gạch đổ nát mà nằm ở "không gian thiêng", nấm mồ chung tưởng niệm hàng vạn chiến sĩ giải phóng quân hy sinh. Công tác quản lý hiện tại chưa thiết lập được quy chuẩn ứng xử văn hóa tâm linh tương xứng với vị thế một "thành phố tuẫn đạo" (Ville Martyre).
Implications đa chiều
- Về lý luận: Chứng minh tính tất yếu của việc tích hợp lý thuyết hệ thống vào quản lý di tích lịch sử chiến tranh; xác lập cơ sở khoa học để đánh giá di sản phi vật thể gắn với không gian lưu niệm sự kiện.
- Về phương pháp: Cung cấp quy trình khảo sát liên ngành kết hợp đo đạc địa chất - lịch sử quân sự - điều tra xã hội học trong quản lý di sản phức hợp.
- Về thực tiễn: Kiến nghị mô hình "Ban Quản lý Di tích Quốc gia Đặc biệt Quảng Trị thống nhất", tập trung quyền lực quản lý hành chính và chuyên môn về một đầu mối duy nhất trực thuộc UBND Tỉnh, chấm dứt tình trạng cát cứ, phân tán nguồn lực.
- Về chính sách: Đề xuất điều chỉnh phân cấp quản lý theo Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL; kiến nghị cơ chế giữ lại 100% nguồn thu phí tham quan để tái đầu tư tu bổ khẩn cấp và hỗ trợ an sinh xã hội cho cộng đồng vùng đệm di tích.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn ghi nhận 3 giới hạn khoa học nội tại:
- Ranh giới khảo sát: Chưa thể tích hợp toàn diện tuyến di tích Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh do rào cản về cơ chế bảo mật và phân cấp quản lý quốc phòng của Binh đoàn 12.
- Dữ liệu thực nghiệm: Chuỗi số liệu thống kê du khách và kinh tế di sản dừng lại ở mốc năm 2020, chưa bao hàm giai đoạn phục hồi sau đại dịch COVID-19 và các biến động kinh tế toàn cầu mới.
- Công nghệ đo đạc: Nghiên cứu chưa ứng dụng kỹ thuật quét 3D Laser Scanning và mô hình thông tin di sản (HBIM - Heritage Building Information Modeling) trên toàn bộ 40 km chiều dài của 114 địa đạo do hạn chế về kinh phí kỹ thuật.
Chương trình nghiên cứu tiếp nối định hướng 4 trọng tâm:
- Thiết lập mô hình kinh tế di sản lượng hóa giá trị phi thị trường (Contingent Valuation Method) đối với không gian ký ức chiến tranh;
- Nghiên cứu ứng dụng bản sao số (Digital Twin) và thực tế ảo tăng cường (AR/VR) trong diễn giải lịch sử tại Đôi bờ Hiền Lương và Địa đạo Vịnh Mốc;
- Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu cực đoan đến độ bền cơ học của hệ thống làng hầm đất đỏ bazan Vĩnh Linh;
- Xây dựng mô hình du lịch hòa bình quốc tế (Peace Tourism) kết nối Quảng Trị với mạng lưới di sản hòa bình thế giới.
Tác động và ảnh hưởng
Nghiên cứu mang lại tác động đa chiều sâu rộng:
- Học thuật: Đóng góp nguồn dữ liệu thực chứng chuẩn xác cho các chương trình đào tạo sau đại học ngành Quản lý văn hóa, Di sản học và Văn hóa học tại Việt Nam; tạo tiền đề cho các nghiên cứu so sánh quốc tế về di sản xung đột (Conflict Heritage).
- Chính sách công: Cung cấp luận cứ trực tiếp để Sở VHTT&DL tỉnh Quảng Trị tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết chuyên đề về bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử quốc gia đặc biệt giai đoạn 2021–2030.
- Phát triển kinh tế - xã hội: Định hình quy hoạch không gian thị xã Quảng Trị thành "Đô thị lịch sử - tâm linh - hòa bình", tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương từ nông nghiệp thuần túy sang dịch vụ du lịch hoài niệm cao cấp.
- Quốc tế: Tuyên truyền thông điệp khát vọng hòa bình, hữu nghị và hòa hợp dân tộc của Việt Nam tới các tổ chức quốc tế như UNESCO, ICOMOS.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh & Giới học thuật: Tiếp cận khung phân tích hệ thống hoàn chỉnh và bộ tư liệu lưu trữ quý giá về các di tích chiến tranh thế kỷ XX.
- Nhà hoạch định chính sách & Cơ quan quản lý văn hóa: Sử dụng các khuyến nghị thể chế để điều chỉnh quy chế phân cấp quản lý, tiêu chuẩn hóa quy trình lập hồ sơ quy hoạch bảo vệ di tích.
- Doanh nghiệp lữ hành & R&D du lịch: Khai thác các dữ liệu về cấu trúc di tích và giá trị văn hóa phi vật thể để thiết kế các tour du lịch chuyên đề "Ký ức chiến tranh - Khát vọng hòa bình" chất lượng cao.
- Cộng đồng địa phương tại Quảng Trị: Hưởng lợi từ mô hình chia sẻ lợi ích kinh tế du lịch di sản, nâng cao sinh kế và bảo vệ môi trường cảnh quan làng quê truyền thống.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án mở rộng Lý thuyết Hệ thống của Ludwig von Bertalanffy bằng việc mô hình hóa cấu trúc tương tác giữa hai tiểu hệ thống "Vĩ mô - Thể chế chính sách" và "Vi mô - Nghiệp vụ thực thi" trong quản trị di sản cách mạng. Nghiên cứu chứng minh rằng đối với di tích lịch sử cận - hiện đại, hiệu quả hệ thống không phụ thuộc vào quy mô đầu tư vật chất đơn thuần mà phụ thuộc vào mức độ tương thích chức năng và khả năng bảo toàn "tính thiêng phi vật thể" của không gian tưởng niệm.
2. Tính đổi mới về phương pháp luận khi so sánh với các công trình đi trước?
So với nghiên cứu của Nguyễn Bá Linh (2018) về Thành Nhà Hồ (chỉ tiếp cận quản lý di sản đơn điểm) hay Hà Thúy Mai (2019) về ATK Tân Trào (chủ yếu dựa vào phương pháp xã hội học mô tả), luận án này đổi mới vượt bậc bằng cách tiếp cận liên ngành hệ thống - cấu trúc chức năng. Nghiên cứu phối hợp tam giác đạc giữa phân tích văn bản quy phạm pháp luật, khảo sát kỹ thuật 114 địa đạo và phỏng vấn sâu đa tầng từ lãnh đạo tỉnh đến người dân vùng lõi.
3. Phát hiện thực nghiệm gây bất ngờ nhất được hỗ trợ bởi dữ liệu?
Phát hiện bất ngờ nhất là mức độ dễ tổn thương nghiêm trọng của hệ thống bảo tồn làng hầm Vĩnh Linh: mặc dù có 114 địa đạo trên lý thuyết, thực tế chỉ có 1 địa đạo (Vịnh Mốc) và 2 điểm nhánh tại Hiền Dũng là có khả năng duy trì bảo tồn vật chất nguyên vẹn; hơn 95% hệ thống còn lại đã bị vùi lấp tự nhiên hoặc biến dạng do canh tác nông nghiệp. Điều này chỉ ra sự chênh lệch rất lớn giữa danh mục xếp hạng pháp lý và năng lực bảo tồn vật thể trên thực địa.
4. Luận án có cung cấp giao thức tái lặp nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Có. Luận án cung cấp bảng ma trận biến số phân tích hệ thống, bộ câu hỏi phỏng vấn sâu bán cấu trúc cho từng nhóm chủ thể quản lý và quy trình 5 bước khảo sát hiện trạng khoanh vùng bảo vệ di tích. Giao thức này hoàn toàn có thể tái lặp để nghiên cứu các quần thể di tích chiến tranh khác như Điện Biên Phủ, Côn Đảo hoặc Phú Quốc.
5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo ra sao?
Lộ trình nghiên cứu giai đoạn 2021–2030 tập trung vào 3 trụ cột: (1) Số hóa 3D toàn diện và tích hợp hệ thống thông tin địa lý GIS cho toàn bộ 114 làng hầm Vĩnh Linh; (2) Xây dựng chỉ số năng lực quản trị di sản địa phương (Local Heritage Governance Index); (3) Phát triển khung lý thuyết "Kinh tế học ký ức" (Economics of Memory) ứng dụng cho các điểm đến du lịch hòa bình quốc tế.
Kết luận
Luận án khẳng định 5 đóng góp cốt lõi:
- Xác lập cơ sở khoa học và áp dụng thành công Lý thuyết Hệ thống vào nghiên cứu quản lý di tích quốc gia đặc biệt tại địa phương.
- Nhận diện toàn diện hệ thống quản lý di tích QGĐB tỉnh Quảng Trị thông qua hai tiểu hệ thống vĩ mô và vi mô, chỉ rõ nguyên nhân gốc rễ của những bất cập thể chế.
- Cung cấp bức tranh thực chứng sâu sắc về hiện trạng 3 cụm di tích tiêu biểu: Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, Địa đạo Vịnh Mốc và Thành cổ Quảng Trị giai đoạn 2013–2020.
- Đề xuất mô hình tái cấu trúc bộ máy quản lý thống nhất trực thuộc UBND Tỉnh, hoàn thiện cơ chế phân cấp và giải quyết xung đột vùng bảo vệ.
- Mở ra hướng tiếp cận liên ngành mới trong việc biến "di sản chiến tranh đau thương" thành "nguồn lực phát triển hòa bình và hòa hợp dân tộc bền vững".
Nghiên cứu tạo bước tiến phương pháp luận vững chắc, mở ra 3 nhánh nghiên cứu học thuật mới (bảo tồn số di sản ngầm, quản trị không gian tưởng niệm thiêng, kinh tế du lịch hòa bình), đồng thời để lại hệ giá trị ứng dụng thực tiễn đo lường được cho sự nghiệp phát triển văn hóa - xã hội tỉnh Quảng Trị và Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế.