Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đầu tư và Phát triển, chi nhánh Hà Tĩnh Chương 3: Một số giải pháp Marketing nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đầu tư và Phát triển, chi nhánh Hà Tĩnh. _________________________________________________________________________ Học viên: Hoàng Trọng Vinh Khoa Kinh tế và Quản lý Cao học QTKD 2007 – 2009 8 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách khoa Hà Nội CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.1 Ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế thị trƣờng 1.1 Ngân hàng thƣơng mại và vai trò của ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế. Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự phát triểu của nền kinh tế hàng hóa, và sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường đã làm biến đổi mạnh mẽ hệ thống ngân hàng thương mại từ những hệ thống ngân hàng giản đơn, sơ khai ban đầu nay đã trở thành những ngân hàng hiện đại, những tập đoàn tài chính khổng lồ, đa quốc gia. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, các tư tưởng kinh tế, sự đa dạng hóa của các sản phẩm dịch vụ và hoàn cảnh thực tế đặc thù của từng quốc gia, từng đạo luật mà khái niệm ngân hàng thương mại có thể được nhìn nhận dưới góc độ này hay góc độ khác nhưng tựu chung lại và nhất quán với nhau đó là: Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm và khu vực đầu tư của nền kinh tế hay nói cụ thể hơn thì Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi từ các tác nhân trong nền kinh tế, sau đó thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư vào các tài sản có khả năng sinh lời khác, đồng thời thực hiện cung cấp đa dạng các danh mục dịch vụ tài chính, tín dụng, thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế.
[4] Theo luật tín dụng, định nghĩa: Ngân hàng thương mại là một loại tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật này còn định nghĩa: Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. [3,7] Như vậy, rõ ràng ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Trước hết với vai trò trung gian tài chính, ngân hàng thương mại thực hiện việc chuyển các khoản tiết kiệm (chủ yếu từ hộ gia đình) _________________________________________________________________________ Học viên: Hoàng Trọng Vinh Khoa Kinh tế và Quản lý Cao học QTKD 2007 – 2009 9 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các tác nhân khác thực hiện hoạt động đầu tư.
Đồng thời, ngân hàng thương mại là người cung cấp các khoản tín dụng cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất, là một trong những thành viên quan trọng nhất của thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền trung ương và địa phương phát hành để tài trợ cho các chương trình công cộng. Ngân hàng thương mại cũng là một trong những tổ chức cung cấp vốn lưu động, vốn trung hạn và dài hạn quan trong cho các doanh nghiệp. - Với vai trò thanh toán, ngân hàng thương mại thay mặt khách hàng thực hiện việc thanh toán cho việc mua hàng và dịch vụ như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử. - Với vai trò người bảo lãnh, ngân hàng thương mại cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán.
- Với vai trò đại lý, các ngân hàng thương mại thay mặt khách hàng quản lý và bảo lãnh phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán. - Cuối cùng với vai trò thực hiện chính sách, các ngân hàng thương mại còn là một kênh quan trọng để thực thi chính sách vĩ mô của chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế vào theo đuổi các mục tiêu xã hội.2 Hoạt động cơ bản của NHTM trong nền kinh tế thị trƣờng. Ngân hàng thương mại là tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho công chúng cũng như thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế. Thành công trong hoạt động kinh doanh của NH hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực, khả năng cung cấp các dịch vụ cho công chúng theo giá cạnh tranh trên thị trường.
Dựa trên chức năng của các NHTM, chúng ta có thể phân chia các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM như được mô tả tóm tắt trong sơ đồ 1. a) Chức năng luân chuyển tài sản: phân theo chức năng này NHTM đồng thời thực hiện hai hoạt động sau: Hoạt động huy động vốn: là hoạt động mang tính chất tiền đề nhằm tạo lập nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Bởi vậy để đảm bảo nguồn vốn trong hoạt _________________________________________________________________________ Học viên: Hoàng Trọng Vinh Khoa Kinh tế và Quản lý Cao học QTKD 2007 – 2009 10 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách khoa Hà Nội động kinh doanh của mình, các NHTM có thể thực hiện các hoạt động huy động vốn từ: - Vốn chủ sở hữu: đây là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động. Nguồn vốn này tuy chiếm tỷ trọng không lớn, thông thường khoảng 10% tổng số vốn, nhưng có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt đông ngân hàng.
Nguồn vốn chủ sỡ hữu gồm có vốn điều lệ, các quỹ của ngân hàng hình thành trong quá trình kinh doanh và các tài sản khác theo quy định của nhà nước. Các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM Chức năng cung cấp Chức năng luân chuyển tài sản dịch vụ Hoạt động huy động Hoạt động sử dụng - Dịch vụ thanh toán và vốn vốn ngân quỹ - Bảo lãnh - Mua bán ngoại tệ - Vốn chủ sở hữu - Hoạt động tín dụng - Tiền gửi tiết kiệm - Ủy thác, đại lý - Hoạt động đầu tư - Kinh doanh chứng -Tiền gửi giao dịch - Phát hành C.khoán khoán… - Vay các NH khác - Hoạt động khác Sơ đồ 1. Khái quát hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM [4] - Tiền tiết kiệm và tiền gửi giao dịch: trong đó tiền gửi tiết kiệm của dân cư chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn huy động của NHTM. Ngoài ra còn có các khoản tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và của các tổ chức xã hội.
Bên cạnh các khoản tiền gửi có kỳ hạn, NHTM còn huy động các khoản tiền gửi không kỳ hạn, đây là những khoản tiền mà người gửi có thể rút bất kỳ lúc nào. Các khoản tiền gửi không kỳ hạn này có thể bao gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi để đảm bảo an _________________________________________________________________________ Học viên: Hoàng Trọng Vinh Khoa Kinh tế và Quản lý Cao học QTKD 2007 – 2009 11 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách khoa Hà Nội toàn tài sản của khách hàng. Điểm nổi bật của khoản tiền gửi này là chi phí huy động thấp nhưng biến động mạnh, tính chất vận động phức tạp và có nhiều rủi ro. - Phát hành chứng khoán: thông qua thị trường tài chính, hiện nay các NHTM có thể huy động vốn bằng cách phát hàng các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác với nhiều loại kỳ hạn, lãi suất khác nhau, có ghi danh hoặc không ghi danh nhằm đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và đáp ứng nhu cầu nắm giữ các tài sản khác nhau của khách hàng.
- Vay từ ngân hàng thương mại khác: trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình nếu các NHTM nhận thấy nhu cầu vay vốn của khách hàng gia tăng mạnh hoặc ngân quỹ thiếu hụt do có nhiều dòng tiền rút ra, thì NHTM có thể vay tiền từ các ngân hàng khác như Ngân hàng Nhà nước thông qua hình thức chiết khấu, tái chiết khấu cá giấy tờ có giá, các hoạt động tín dụng đã cung cấp cho khách hàng; hoặc vay của tổ chức tài chính khác trên thị trường. Hoạt động sử dụng vốn: chức năng thứ hai trong hoạt động luân chuyển tài sản của các ngân hàng thương mại là thực hiện các hoạt động tín dụng và đầu tư. Đây là hoạt động đem lại nguồn thu cho ngân hàng và bù đắp các chi phí hoạt động. - Hoạt động tín dụng: hiện nay vẫn là một trong những hoạt động cơ bản, truyền thống và đóng vai trò quan trọng nhất trong các hoạt động tạo ra thu nhập của NHTM (hoạt động này thường chiếm 60% -80% tài sản của ngân hàng).
Mặc dù, hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, tuy nhiên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro (rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro chính trị và rủi ro đạo đức) khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây ảnh hưởng lớn đến ngân hàng vì phần lớn vốn của ngân hàng được huy động từ nền kinh tế. - Hoạt động đầu tư: để đa dạng hóa việc sử dụng vốn, giảm rủi ro trong hoạt động, tăng thu nhập và hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết ngoài hoạt động tín dụng NHTM còn thực hiện các hoạt động đầu tư như: hoạt động đầu tư gián tiếp (các hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán thông qua việc mua bán các chứng khoán do chính phủ, công ty phát hành), hoặc các hoạt động đầu tư trực tiếp (góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty tài chính…). _________________________________________________________________________ Học viên: Hoàng Trọng Vinh Khoa Kinh tế và Quản lý Cao học QTKD 2007 – 2009 12 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách khoa Hà Nội b) Chức năng cung cấp dịch vụ [3] - Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, ngân hàng thương mại được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước. Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước.