phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, danh mục sơ đồ bảng biểu, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chưo’ng 1: Những vấn đề cơ bản về sử dụng marketing trong phát triên dịch vụ thẻ của Ngân hàng thương mại. Chu’O’ng 2: Thực trạng sử dụng marketing trong phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại Lào. Chưong 3: Giải pháp hoàn thiện marketing nhàm phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại Lào. 3 Chirơng 1 NHỮNG VÁN ĐẺ C ơ BẢN VÈ s ử DỤNG MARKETING TRONG PHÁT TRIẾN DỊCH v ụ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VÊ DỊCH v ụ THẺ 1. Các quan niệm về thẻ Từ mỗi góc độ, nghiên cứu khác nhau nguời ta đua ra những cách hiểu khác nhau về thẻ. Có thể nêu ra đây một sổ quan niệm tiêu biểu sau: Thứ nhất, theo khái niệm tổng quát: thẻ là một danh từ chung chỉ một vật nhỏ, gọn, chứa đựng các thông tin nhằm sử dụng vào một hoặc một số mục đích nào đó. Do vậy, thẻ sẽ đuợc gắn với những tính chất, đặc điểm, nội dung riêng biệt để cụ thể hóa thành những tên gọi nhu thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ,.
Thứ hai, đứng trên góc độ phát hành thì thẻ là một phuơng tiện do ngân hàng, các định chế tài chính hay công ty phát hành để giao dịch mua bán hàng hóa dịch vụ hoặc rút tiền mặt. Thứ ba, duới góc độ công nghệ thanh toán: thẻ là một phuơng thức thanh toán ghi số điện tử số tiền của các giao dịch cần thanh toán thục hiện trên hệ thống thanh toán đuợc kết nối giữa các chủ thẻ tham gia dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng và tin học viễn thông. Từ những quan niệm trên có thể hiểu bản chất của thẻ ngân hàng:” Đó là một phuong tiện thanh toán có thể làm thỏa mãn nhu cầu tiện dụng của nguời sử dụng nó trong mua bán hàng hóa, rút tiền mặt hoặc sử dụng làm công cụ dịch vụ các công cụ tự động do ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp”. Thẻ là biểu hiện của sự cam kết của ngân hàng hoặc các tổ chức 4 phát hành đảm bảo thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền vay của ngân hàng thông qua cơ chế tín dụng hoặc bằng chính tiền của các chủ thẻ thông qua tài khoản tiền gửi của họ tại ngân hàng.
Thẻ là một phương tiện thanh toán tiên tiến ra đời gắn liền với sự phát triển của ngành ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong xã hội nói riêng. Cung ứng dịch vụ thẻ cũng thể hiện mức độ áp dụng khoa học công nghệ của mỗi ngân hàng. Phân loại thẻ * Phân theo chủ thể p hát hành: - Thẻ do các tổ chức tài chính và ngân hàng phát hành: là loại thẻ được phát hành đến khách hàng sử dụng tài khoản của mình tại ngân hàng hay sử dụng số tiền ngân hàng cấp tín dụng. Loại thẻ này được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới không chỉ trên phạm vi quốc gia mà còn trên phạm vi quốc tể.
Các loại thẻ của tổ chức tài chính gồm: thẻ ATM, thẻ ghi nợ (Debit Card), thẻ tín dụng (Credit Card). - Thẻ do các công ty phát hành hoặc liên doanh với các tổ chức tài chính hoặc ngân hàng phát hành. Đây là loại thẻ du lịch giải trí do các tập đoàn kinh doanh lớn, công ty xăng dầu, các cửa hiệu lớn phát hành, bao gồm: thẻ chi tiêu (Private Label Retail Card), thẻ của các công ty xăng dầu (Oil Company Card), thẻ giải trí (Travel & Entertainment Card). * Phân theo công nghệ sản xuất: - Thẻ từ (Magnetic Card): các thông tin của chủ thẻ và thẻ được mã hoá bằng dải băng từ phía sau thẻ.
- Thẻ thông minh (Smart Card): đây là loại thẻ có tính bảo mật cao, rất an toàn, là hình thức thẻ tiến bộ nhất hiện nay. Các thông tin được mã hoá 5 trên một thẻ chip điện tử có cấu trúc như máy tính do đó khả năng xâm phạm thẻ thấp. Loại thẻ này đang là xu hướng phát hành trong tương lai của các chủ thể phát hành. * Phân loại theo tính chất thanh toán thẻ: - Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ dùng cho tiêu dùng cá nhân, chủ thẻ được tiêu dùng trong một hạn mức tín dụng do ngân hàng cấp dựa trên khả năng tài chính, tài sản thể chấp của chủ thẻ mà không phải trả tiền ngay.
Phần chi tiêu của chủ thẻ sẽ được thanh toán tại ngân hàng sau khoản thời gian nhất định (thường là cuối tháng). Loại thẻ này được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. - Thẻ ghi nợ (Debit Card): là loại thẻ được ngân hàng phát hành cho khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng. Thẻ ghi nợ thường không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc số dư thực có của chủ thẻ trong tài khoản thẻ.
Chủ thẻ chỉ chi tiêu trong phạm vi mình có. Nhưng hiện nay, để sản phẩm mang tính hấp dẫn nhiều ngân hàng cho phép khách hàng rút tiền quá số dư trong tài khoản một khoản nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định, tiêu dùng nhiều hơn số tiền mình có trong thẻ, hình thức này gọi là thấu chi. Đối với thẻ ghi nợ, giữa ngân hàng và khách hàng không diễn ra quá trình cho vay tín dụng, không có việc phân loại khách hàng để hưởng hạn mức tín dụng do đó khách hàng chỉ cần có tài khoản tại ngân hàng đều có thể tiếp cận tới sản phấm thẻ ghi nợ của ngân hàng. • Có hai loại thẻ g h i n ợ cơ bản: + Thẻ on-line: là loại thẻ mà những thông tin giao dịch được nhập ngay tại thiêt bị điện tử đặt tại đơn vị chấp nhận thẻ hoặc tại các điểm rút tiền mặt tự động.
Sau khi giao dịch hoàn thành, giá trị của những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ. 6 + The off-line: với loại thẻ này, giao dịch không được khấu trừ ngay vào tài khoản của chủ thẻ mà được lưu lại vào thiết bị điện tử sau đó được chuyển tới ngân hàng phát hành và khấu trừ vào tài khoản người gửi ở thòi diêm muộn hơn vài ngày sau đó. + Thẻ ATM: Thẻ ATM là loại thẻ với chức năng chuyên biệt để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc ở các ngân hàng. Đây được coi là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép khách hàng tiếp cận trực tiếp tới tài khoản tại ngân hàng từ máy rút tiền tự động, số tiền rút ra mỗi lần sẽ được trừ dần vào số tiền trong tài khoản thẻ.
Sự tiện lợi là đặc điểm quan trọng nhất của thẻ ATM. - Thẻ rút tiền có hai loai: + Chỉ để rút tiền tại những máy rút tiền tự động của ngân hàng phát hành. + Được sử dụng để rút tiền không chỉ ở ngân hàng phát hành mà còn được sử dụng để rút tiền ở các ngân hàng cùng tham gia tổ họp thanh toán với ngân hàng phát hành thẻ. * Phân loại theo phạm vi lãnh thồ: - Thẻ trong nước: là loại thẻ được phát hành và sử dụng trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, sử dụng đồng bản tệ của quốc gia để thực hiện giao dịch.
Thẻ này do một tổ chức ngân hàng tài chính hoặc công ty điều hành thông suốt quá trình phát hành, trung gian đến thanh toán. Do thẻ chỉ được dùng trong phạm vi quốc gia nên bị hạn chế trong sử dụng khi có ít các đơn vị chấp nhận thẻ. - Thẻ quốc tế: Thẻ được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu, thẻ này thường do các tổ chức thẻ lớn phát hành và trở thành loại thẻ được ưa chuộng do tính năng thống nhất, đồng bộ, sử dụng toàn cầu của chúng. 7 * Phân loại theo hạn m ức tín dụng của thẻ: - Thẻ chuấn : là loại thẻ pho biến trên thế giới với hạn mức tín dụng không cao.
- Thẻ vàng : là thẻ được các khách hàng có thu nhập cao sử dụng nhằm đáp ứng mức sống cũng như nhu cầu chi tiêu nhiều hom mức bình thường. Để được là đối tượng sử dụng thẻ này, khách hàng phải được đánh giá khả năng tài chính lành mạnh, có uy tín, có nhu cầu chi tiêu lớn. Hạn mức tín dụng của loại thẻ này cao hơn nhiều so với thẻ chuẩn. * Theo m ục đích sử dụng: - Thẻ kinh doanh: Là loại thẻ được phát hành cho nhân viên của công ty sử dụng, nhằm giúp cho công ty quản lý chặt chẽ việc chi tiêu vào các công việc chung của nhân viên.
Hàng tháng, hàng quý và hàng năm, công ty sẽ được cung cấp những thông tin quản lý một cách tóm tắt và chi tiết về việc chi tiêu của từng nhân viên, từng bộ phận trong công ty. - Thẻ du lịch và giải trí: Là loại thẻ do các công ty tư nhân phát hành để phục vụ cho ngành du lịch và giải trí. Mặc dù được phân thành nhiều loại khác nhau nhưng các loại thẻ trên đều có đặc điểm chung là dùng để thanh toán, chi trả tiền hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, chúng được gọi là thẻ thanh toán.
Như vậy có nhiều loại thẻ đã được ra đời, mang những công dụng khác nhau cho người sử dụng. Thẻ trở thành công cụ thanh toán không dùng tiền mặt được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Với những tính năng vượt trội của mình, thẻ không chỉ khắng định tính ưu việt của mình so với các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác như: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi mà thẻ còn đem lại những tác dụng tích cực cho nền kinh tế cũng như cho ngân hàng và khách hàng sử dụng thẻ. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA MARKETING TRONG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ NGÂN HÀNG 1.
Khái niệm marketing ngân hàng Trong điều kiện môi trường cạnh tranh ngày càng mở rộng, mức độ cạnh tranh giữa các tô chức cung cấp dịch vụ Tài chính ngân hàng ngày càng gia tăng cùng với việc khách hàng sử dụng dịch vụ do các ngân hàng cung ứng ngày càng có nhiều đòi hỏi cao hơn đã buộc các ngân hàng phải xem xét đến việc ứng dụng marketing vào hoạt động kinh doanh của mình.