Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý di sản văn hóa DSVH đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ rất sớm, bắt đầu vào khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Với công trình Di sản: quản lý, diễn giải và bản sắc, Peter Howard cho rằng vấn đề quản lý di sản được đặt ra vào khoảng đầu thế kỷ XIX, xuất phát từ những cá nhân có tình yêu và sự say mê đối với di sản nhằm mục đích bảo tồn di sản để gìn giữ những thứ vì lợi ích của công chúng.
Tác giả đã phân di sản theo các lĩnh vực: thiên nhiên, cảnh quan, đài kỷ niệm, khu di tích, đồ tạo tác, các hoạt động và con người. Peter Howard nhận định việc bảo vệ và quản lý di sản cần phải trả lời các câu hỏi như: bảo tồn như thế nào? Vì sao cần phải bảo tồn và bảo tồn nhằm mục đích gì? Việc bảo tồn cần phải giữ lại các giá trị gốc của DSVH và đây cũng là cơ sở để phát huy và khai thác các DSVH phục vụ trong đời sống đương đại [145]. Đến thế kỷ XX, sự ra đời của các Hiệp hội Di sản ở châu Âu đã diễn đạt ngắn gọn bằng khái niệm “quản lý di sản”, khái niệm này phát triển mạnh vào nửa sau thế kỷ XX và quản lý di sản đã trở thành vấn đề được quan tâm sâu rộng, được phát triển mạnh mẽ bởi nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu. Theo nghiên cứu về QL DSVH các tác giả Brian Garrod và Alan Fayall nhận định rằng sự cân bằng giữa bảo tồn và khai thác là điều rất quan trọng, có mối quan hệ hữu cơ, nếu không bảo vệ các DSVH, giữ gìn thì DSVH sẽ thất truyền và tài sản đó vĩnh viễn không tồn tại và các thế hệ mai sau không thể biết DSVH đó đã từng tồn tại hay biểu đạt như thế nào [138].
Trong Tài liệu hướng dẫn thực tiễn cho các nhà quản lý khu di sản thế giới của tác giả Arthur Perdersen [135] cho rằng phát triển du lịch một mặt góp phần giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và thu nhập. Song bên cạnh đó, việc tăng lượng khách tham quan DSVH sẽ có những tác động tiêu cực làm nguy hại đến DSVH. 13 Trong giáo trình Quản lý công nghiệp văn hóa của tác giả Zhan Chang Yuan [148], đề cập việc quản lý DSVH như một ngành công nghiệp với những vấn đề về chính sách, nguồn tài nguyên, nhân lực thực hiện. Trong những nghiên cứu của mình, tác giả đều đề cập tới hai vấn đề của công tác quản lý đó là bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Các nhà quản lý luôn phải đối mặt với việc phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa hai lĩnh vực bảo tồn và phát triển, giữa nhà nước và nhân dân, giữa di sản và cộng đồng. Ở Việt Nam, những vấn đề lí luận về DSVH như vai trò, chức năng của DSVH đối với việc lựa chọn mô hình phát triển văn hóa dân tộc và chính sách QL DSVH dân tộc của nước ta được nhắc đến trong các kỳ Đại hội của Đảng và một số bài học kinh nghiệm QL DSVH tại Nhật Bản được tác giả Hoàng Vinh đề cập đến trong công trình Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc [132]. Tác giả Hoàng Vinh đã nghiên cứu giá trị DSVH nói chung, còn vấn đề nghiên cứu về DSVH DTTS chưa được đề cập đến. Những nội dung giữ gìn và phát huy DSVH dân tộc ở Việt Nam được nhắc đến đều trên phương diện vĩ mô, tác giả chưa đưa ra một cách cụ thể gắn liền với một loại hình DSVH nào.
NCS xem đây là một công trình khoa học hữu ích để kế thừa, tiếp thu khi nghiên cứu luận án. Tác giả Nguyễn Chí Bền đã làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn kinh nghiệm bảo tồn, phát huy DSVH qua cuốn Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội [12]. Từ thực trạng DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, tác giả đã làm rõ giá trị của DSVH trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Tác giả nhận định những khó khăn, thách thức trong công tác bảo tồn và phát huy DSVH, từ đó tác giả đưa ra giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội.
Đồng thời, nêu lên kinh nghiệm của một số nước với quan điểm: “bảo tồn cần phải đi kèm với khai thác, phát huy giá trị DSVH trong đời sống… bảo tồn cần phải quan tâm đến đặc điểm xã hội trong từng thời điểm cụ thể để có những điều chỉnh phù hợp với thời đại” [12, tr. Từ kết quả nghiên cứu của tác giả, NCS có thể chọn lọc, kế thừa và phát triển trong quá trình nghiên cứu luận án, như các khái niệm: văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể, 14 BV&PH giá trị DSVH, quan điểm của UNESCO, của Đảng và Nhà nước về công tác văn hóa và QL DSVH. Tác giả Phạm Thanh Hà đã công bố cuốn sách Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay [35], trong đó bàn luận nhiều về vấn đề bản sắc dân tộc. BV&PH DSVH không chỉ là mối quan tâm của từng quốc gia mà còn là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế.
Bởi vì, một trong những thách thức đặt ra đối với sự phát triển của các quốc gia là sự mai một bản sắc dân tộc. Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những phương thức giải quyết hiệu quả để không những đưa đất nước phát triển mà còn phải phát huy sức mạnh nguồn lực DSVH trở thành động lực nội sinh thúc đẩy dân tộc phát triển. Tác giả khẳng định: “dân tộc Việt Nam phải giữ gìnbản sắc dân tộc một cách sáng tạo, linh hoạt; phải kết tinh lại và nâng lên tầm cao mới mọi đặc điểm tích cực của dân tộc và những đặc điểm tích cực mới của thế giới” [35, tr. Tiếp thu tinh thần này, NCS cho rằng công tác QL DSVH người Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh chính là gìn giữ và phát triển DSVH một cách linh hoạt, sáng tạo nhưng vẫn giữ được cốt lõi bản sắc văn hóa trong đời sống đương đại.
Năm 2005, Viện Văn hóa - Thông tin (Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam) xuất bản cuốn sách Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam [78]. Đây là công trình tuyển chọn các vấn đề nghiên cứu lý luận và thực tiễn về DSVH phi vật thể của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Với cách tiếp cận của chuyên ngành Văn hóa học, Quản lý Văn hóa và vận dụng quan điểm của UNESCO, công trình tập trung vào phân tích những trường hợp cụ thể ở Việt Nam như: thực trạng, nguy cơ mai một đối với các loại hình di sản và đề ra những biện pháp cấp bách cần làm để bảo vệ loại hình di sản này. Một số bài viết khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành về vấn đề DSVH như: Bài “Bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể” [109] đã khẳng định văn hóa phi vật thể là văn hóa trải dài trong không gian và thời gian, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
Trong bối cảnh hiện nay, giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc, vùng miền và phạm vị khu vực, quốc tế thì văn hóa phi vật thể dễ bị tổn thương. Bài “Giữ 15 gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc” [105], tác giả cho rằng: bản sắc văn hóa là cội nguồn làm lên bản lĩnh dân tộc Việt Nam, điều đó đã chứng minh qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Vấn đề QL DSVH trở thành mối quan tâm lớn của các nhà quản lý, nhà khoa học, bởi từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, DSVH chịu sự tác động của kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Do vậy, chủ đề nghiên cứu về QL DSVH được các tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn công bố công trình sách Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế [30].
Các tác giả đã đề cập khá toàn diện đến vấn đề về quản lý văn hóa từ lý luận đến thực trạng quản lý văn hóa ở Việt Nam từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới (1986) đến nay; nghiên cứu một số kinh nghiệm quản lý văn hóa một số quốc gia như: Anh, Mỹ, Ôxtrâylia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan. Thông qua đó, nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra cho Việt Nam. Qua quá trình đánh giá thực trạng và nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, các tác giả đã đưa ra quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL văn hóa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Hai công trình sách nêu trên, đã có khối lượng kiến thức lí luận và thực tiễn lớn về QL DSVH ở Việt Nam.
Tuy nhiên, các công trình chỉ đề cập chung về DSVH và QL DSVH ở cấp vĩ mô, chưa nghiên cứu về QL DSVH DTTS. Trong công trình Quản lý di sản văn hóa [68] của tác giả Nguyễn Thị Kim Loan và Nguyễn Trường Tân đã trình bày những vấn đề thực tiễn về hệ thống DSVH vật thể, phi vật thể ở Việt Nam và QLNN về DSVH thông qua quan điểm của Đảng và Nhà nước; nội dung cơ bản của QLNN về văn hóa và nghiệp vụ quản lý DSVH như: kiểm kê DSVH, tổ chức bảo vệ DSVH, tổ chức khai thác, phát huy DSVH cũng như yêu cầu, nhiệm vụ của cán bộ QL DSVH. QL DSVH trong bối cảnh hiện nay phải gắn với phát triển du lịch. Điều đó thể rõ trong cuốn sách Bảo tồn và phát huy giá trị di sản lịch sử - văn hóa phục vụ phát triển du lịch của Hội Khoa học Lịnh sử Việt Nam.
Công trình nghiên cứu này khẳng định mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa với phát triển du lịch chính là phương thức hữu hiệu để phát huy 16 các giá trị di sản lịch sử văn hóa, vì có bảo tồn tốt thì mới có thể phát triển tốt và phát triển tốt chính là cơ sở cho bảo tồn tốt [44, tr.