Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN 'THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIÊN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH 'TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tỗng quan các nghiên cứu về hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn toán 1. Các công trình nghiên cứu khoa học trên thế gi Hoạt động day học theo định hướng phát triền năng lực (PTNL) là một trong những nhân có ánh hưởng lớn đến việc nâng cao chất lượng giáo dục - đảo tạo của một cơ sở giáo dục. Trong lịch sử phát triển của giáo dục, vấn đề dạy học theo định hướng PTNL người học đã được các nhà giáo dục bàn đến khá sớm, nhưng đến những nam cuối thế kỷ XX, thuật ngữ "năng lực” và các nghiên cứu về giáo dục theo định hướng.
PTNL mới được đề cập và nghiên cứu một cách có hệ thống.Rodgers: “Tiếp cận NL trong giáo dục tập trung vào kết quả học tập, nhắm tới những gì người học dự kiến phải làm đều hơn là nhằm tới những gì họ cần phải học được”.[25] Khi tổng kết lý thuyết về tiếp cận dựa trên NL trong dạy học vả phát triển, K.Paprock (1996) đã chí ra năm đặc tính cơ bản của tiếp cận này: 1) Tiếp cận NL dựa trên triết lý người học là trung tâm; 2) Tiếp cận NL thực hiện việc đáp ứng các đòi hỏi của chính sách: 3) Tiếp cận NL là định hướng cuộc sông thật; 4) Tiếp cận NL rắt lĩnh hoạt và năng động; 5) Những tiêu chuẩn của NL được hình thành một cách rõ rằng [26] Những đặc tính nói trên đã làm cho giáo dục theo tiếp cận NL có những ưu thể nỗi bật so với các cách tiếp cận khác.Kerka những tư thể đó là: 1) Tiếp cận NL cho. phép cá nhân hóa việc học trên cơ sở mô hình NL, người học sẽ bỗ sung những thiểu của mình đẻ thực hiện những nhiệm vu cu thé; 2) tiếp cận NL chú trọng vào kết quả đầu ra; 3) Tiếp cận NL tạo ra những linh hoạt trong việc đạt tới các kết quả đầu ra, theo. những cách thức riêng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cả nhân; 4) Tiếp cận NL còn tạo khả năng cho việc xác định một cách rõ ràng những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả học tập của người học. [27] Chương trình giáo dục định hướng PTNL ngày nay đã dẫn trở thành xu hưởng giáo dục quốc tế.
Giáo dục định hướng PTNL nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc đạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn của người học. Các công trình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, vẫn đề dạy học theo định hướng PTNL đã được đưa vào nguyên lý giáo dục trong nhà trường: “Hoe đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liễn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội "[14] Trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế trí thức như hiện nay phương pháp dạy: học truyền thống - giáo viên lả trung tâm không còn phủ hợp nữa. để theo kịp các nên giáo dục tiên tiến trên thế giới, giáo dục Việt Nam phải nhanh chóng chuyên thống giáo dục của mình theo hưởng tiếp cận PTNL học sinh. Có thể kể đến một số công.
trình nghiên cửu đề cập đến vấn để dạy học theo định hướng PTNL người học của nhiều tác giả như: Phạm Viết Vượng [22], Theo các tác giả Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Sỹ Thư, tổ chức day học theo định hướng PTNL học sinh lả giúp học sinh thấu hiểu “Học đề lảm gỉ - Học cái gỉ” để có NL dich thực; đồng thời bồi dưỡng cho học sinh cỏ “Học hiệu quả để có NL bền vững. Bên cạnh đó, các tác giá còn chỉ ra những NL tư duy nễn tảng cần trang bị cho hoc sinh trong quá trình dạy học, đó là: Tư duy nguyên tắc; Tư duy tông hợp: Tư duy sáng tạo; Tư duy. tôn trọng; Tư duy đạo đức [3] Đảnh giá kết quả dạy học theo cách tiếp cận năng lực là đánh giá theo chuân về sản phim đầu ra nêu sản phâm đó không chỉ là kiến thức kỹ năng mà chủ yếu là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có đẻ thực hiện nhiệm vụ học tập đạt tới một chỗ nào đó. Tác giả Nguyễn Công Khanh cho rằng có nhiều cách tiếp cận đánh giá kết quả dạy.
học như đánh giá định tỉnh; đánh giá dựa trên kết quả thực hiện; tính giá theo chuẩn đánh giá theo năng lực; đánh giá theo sản phẩm đầu ra. [13] Theo tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiếu Bài toán đối mới đánh giá học sinh trong giáo dục theo tiếp cận năng lực là một bài toán phức tap va da ting”. [19] Ngoài hay trong những năm gần đây nhiễu cán bộ quản lý trường trung học cơ sở. (THCS) đã tập trung nghiên cứu vẻ các biện pháp quản lý nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học, các luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục của các tác giả: Diệp.
Sang Chỉ Tra với đề tài “Biện pháp quản lý công tác bằi dưỡng chuyên môn cho giảo viên tiếng Anh các trường trung học cơ sở huyện Tiêu Cẩn, tỉnh Trà Lĩnh” (2016): Trịnh Quang Lộc với để tài “Quán lý công tác bồi dưỡng tổ trưởng chuyên môn trường trung học cơ sở trên địa bàn quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng. "(2015); Phạm Thị Ngọc Thuỷ với đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn hỏa học tại các trường THCS trên địa bàn quận Câm Lệ thành phổ Đà Nẵng ° (2015); Nguyễn Thanh Lịch với đề tài “Quản lý hoạt động dạy học các môn khoa hoc tự nhiên theo chuẩn kién thức và kỹ năng ở các. trường THCS trên địa bàn quận Liên Chiếu, thành phố Đà Nang. Hải với đề tài “Biện pháp quản lý công tác đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở Inyén Kon Ray, tinh Kon Tum.
Các tác giả đã đưa ra được cơ sở lý luận của HĐDH môn toán, thực trạng việc quản lý HĐDH môn toán là một môn quan trọng ở trường THCS. Nhưng hướng tới chương trình giáo dục phô thông mới, khi mà các HĐDH hướng tới việc phát trién năng lực của người học, đặc biệt là với môn toán là bộ môn với nhiều kiến thức khoa học, rất khó thay đổi phương pháp dạy học truyền thông cũng như các quản lý. Đề có thể quản ly HĐDH môn toản theo hưởng phát triển NLHS ở các trường THCS được nâng cao. hiệu quả, tác giả thấy cần nghiên cứu sâu hơn về nội dung nảy.
Từ việc kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng HĐDH, quản lỷ HĐDH môn toán theo định hướng PTNL hoe sinh, dé xuất các biện pháp quản lý HĐDH môn toán ở các trường trung học. cơ sở huyện Hỏa Vang theo định hướng PTNL học sinh. Khải niệm quản Quản lý là một hoạt đông hỉnh thảnh tử sự phân công, hợp tác lao động trong một tập. thể, một tô chức, một cơ sở nhật định.
Quản lý là một hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Bởi vì mọi nhà quân lý ở mọi cấp độ và trong một cơ sở đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân là việc với nhau trong nhóm có thẻ hoàn thành có nhiệm vụ và các mục tiêu đã định. Trên cơ sở các cách tiếp cân khác nhau, khái niệm quản lý đã được các nhà lý luận trong và ngoài nước đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Theo sự phân tích của C.Mác: “Tắt cả mỗi lao động xã hội trực tiếp hay lao động trên nào tiền hành trên quy mô tương đối lớn ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo.
Một người độc tấu vĩ cằm tự mình điều khiên lấy minh, Còn một dàn nhạc thì phải cần có nhạc trưởng”. “Trong tác phâm “Những vấn đề có ý của quản lý" Harold Koontz viết: “Quản lý là một hoạt động chủ yếu nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các. mục đích của nhóm”.W Taylor - Nhà quản lỷ người Mỹ cho rằng: “Đây là biết các sắc đều muốn người khác làm và sau đó. thấy họ đã hoản thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
"Thuật ngữ “quản lý” (từ Hản Việt) nêu rõ bản chất của hoạt động nảy trong thực tiễn, gồm hai mặt tích hợp tử “quản” và từ "lÿ”. "Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ôn định. “Lý” là sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Như Quản lý" là sự trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Theo tác giả Đặng Quốc Bảo vả Bùi Việt Phú: “Bản chất của hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quả trình quản gồm sự coi sóc sự nắm giữ duy trì he ở trạng thái ôn định, quá trình lý gôm sửa sang sắp xếp đôi mới đưa hệ vào thể phát Quản là cái tối thiêu của lý, lý là cái tỗi đa của quản.
Trong quản vẫn phải có lý trong ôn định tạo ra một móng của phát triển, trong lý phải có quản, trong phát triển phải giữ được hạt nhân và sự ôn định đề trạng thái của hệ ở thế cân bằng động hê vận động phù hợp thích ứng và có hiệu quả trong mỗi tương tác giữa các nhân tô bên trong nội lực của các nhân tổ bên ngoài ngoại lực. [2] Các tác giả ở khoa Sư phạm Đại học Quốc Gia Hà Nội là Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan niệm: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động chức nãng kế hoạch hỏa tô chức chỉ đạo lãnh đạo và kiểm tra”.|4] ‘Theo tac giả Phan Văn Kha, khải niệm quản lý trong hoạt đông giáo dục được hiểu là: "Quản lý là quả trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phủ hợp để đạt được các mục đích đã định”. [12] Các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý lả một quá trình định hướng, quá trình cỏ mục tiêu, quản lỷ một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu nảy đặc trưng cho trạng thái mỗi hệ thông vả người quản lý mong muốn”.
Như vậy có thể khái quát: “Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích.