Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. Một số biện pháp sư phạm phát triển nâng lực mô hình hóa toán học cho học sinh thông qua dạy học chủ đề quy tắc đếm trong chương trình lớp 10. Thực nghiệm sư phạm.
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ cơ SỞ THựC TIẺN 1. Năng lực, năng lực toán học 1. Khái niệm năng lực Năng lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau do sự lựa chọn dấu hiệu khác nhau. Theo John Erpenbeck 1999: NI được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí [27] Theo OECD, 2002: NL là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể [25] Theo QuébecMinistere de TEducation, 2004: NL là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng ths để hành động một cách phù họp và hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống [26] Theo Nguyễn Công Khanh 2014: NL là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỳ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống [4] Theo Đồ Đức Thái: NL là sự tích hợp cùa kiến thức, kỳ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin.
NL được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn. [5] - Năng lực trong chương trình GDPT tổng thể 2018 là ‘thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triền nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và thuộc tính cs nhân khác nhau như hứng thú, niềm tin, ý chí. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể’[2] 5 Ta thấy rằng về bản chất NL là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỳ năng và thuộc tính tâm lý cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. để thực hiện thành cồng một công việc trong bối cảnh nhất định.
Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kỹ thuật trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không tiếp thu lượng tri thức rời rạc. Như vậy, cỏ rất nhiều quan niệm khác nhau về năng lực nhưng có chung sự thống nhất như sau : về đặc điểm : NL được hình thành trong các hoạt động , nó chịu sự chi phối của các yếu tố sẵn có di truyền, môi trường và các hoạt động của bản thân. về mối quan hệ với tri thức và kỹ năng : Tri thức và kỳ năng là điều kiện cần thiết để hình thành và phát triển năng lực ; Năng lực góp phần cho quá trình lĩnh hội tri thức và kỹ năng trong lĩnh vực hoạt động nhất định được nhanh chóng, thuận lợi, dễ dàng ; Có năng lực hoạt động nghĩa là có tri thức và kỹ năng trong lĩnh vực đó ; Ngược lại, có tri thức và kỳ năng không hoàn toàn có nghĩa là có năng lực về lĩnh vực đó. Những đặc điểm về mối quan hệ nói trên của năng lực đã định hướng con đường hình thành và phát triển năng lực (thông qua hoạt động), đánh giáo năng lực (qua sự vận dung kiến thức, kỳ năng trong những tình huống cụ thể).
‘Năng lực của mỗi người dựa trên cơ sớ tư chất nhưng điều chù yếu là năng lực hình thành , phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con người dưới sự tác động của rèn luyện dạy học và giáo dục’[12]. Hướng nghiên cửu cũa luận văn phù hợp với quan niệm về năng lực của Chương trình GDPT tổng thể. Nói cách khác : Năng lực là tập hợp các hoạt động (các kỳ năng) tác động lên các nội dung trong một tình huống có ý nghĩa với HS. Kỹ năng ở đây là một hoạt động được thực hiện trong những điều kiện cụ thể và dần dần đạt được kỳ năng trong suốt cuộc đời.
Năng lực toán học Quan niệm chung về NL mà hiện nay được nhiều người thừa nhận, đó là NL là thuộc tính cá nhân được hình thành phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.thực hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiên cụ thể [2]. NL toán học (mathematical competene) là một loại hình năng lực chuyên môn, gắn liền với môn học. Có nhiều quan niệm khác nhau vê NL toán học. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây , các nhà nghiên cứu thường nhắc tới quan niệm NL toán học của các nhà giáo dục toán học Đan Mạch và đề xuất của tác giải Trần Kiều (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam).
Theo Blomhoj & Jensen (2007) cho rằng: ‘NL toán học là khả năng sằn sàng hành động để đáp ứng với thách thức toán học của các tình huống nhất định’[27]. Niss cũng xác định tám thành tố của năng lực toán học và chia thành hai cụm ( xem Hình 1. Cụm thứ nhất bào gồm : NL tư duy toán học, NL giải quyết vấn đề toán học, NL mô hình hóa toán học , NL suy luận toán học. Cụm thứ hai bao gồm : NL biểu diễn, NL sử dụng ngôn ngữ kí hiệu và hình thức hóa, NL giao tiếp toán học, NL sử dụng công cụ phương tiện toán học.
Tám năng lực đó tập trung vào những gì cần thiết để cá nhân có thể học tập và ứng dụng toán học. Các NL này không hoàn toàn độc lập mà liên quan chăt chẽ và có phần giao thoa với nhau. Tám năng lực toán học Theo tác giả Trần Kiều (2014): Các NL cần hình thành và phát triển cho người học qua dạy học môn Toán trong trường phố thông Việt Nam là : NL tư duy, NL giải quyết vấn đề, NL mô hình hóa toán học , NL giao tiếp, NL sử dụng công cụ và phương tiện toán học, NL học tập độc lập và hợp tác’[6]. Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 các em học sinh sẽ được hình thành và phát triển mười năng lực chủ yếu để từ đó phát huy và vận dụng tối đa khả năng của mình vào thực tiễn.
Qua đây ta thấy, có rất nhiều các quan niệm khác nhau về năng lực Toán học, nó là một loại hình nãng lực chuyên môn, gắn liền với môn toán. Từ những nghiên cứu về năng lực toán học, cho thấy năng lực toán học là những đặc điếm tâm lý về hoạt động trí tuệ của học sinh, giúp học sinh nắm vững kiến thức, vận dụng dễ dàng, sâu sấc những kiến thức, kỳ năng trong học tập môn Toán. Toán học hình thành và phát triến gắn liền với các hoạt động của học sinh nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập trong môn Toán: Xây dựng khái niệm, vận dụng, chứng minh và vận dụng định lý, giài toán ., như vậy có 8 thể hiểu năng lực Toán học là tổng thể các kỹ năng của cá nhân người học để đảm báo thực hiện tốt các hoạt động học toán. Năng lực mô hình hóa toán học 1.
Mô hình và mô hình hóa toán học 7. Mô hình Mô hình có thể hiều là một dạng mẫu, một đại diện, một minh họa được thiết kế để mô tả cấu trúc cùa hệ thống, cách vận hành của một hoặc nhiều sự vật, hiện tượng thuộc hệ thống [3, tr. Theo cách khác, mô hình còn có thế hiểu là một bản sao nhở hơn của đối tượng, mang những đặc trưng (đặc điểm, màu sắc, chức năng) của đối tượng mà nó biểu diễn [1]. về mặt trực giác, mô hình có thể hiểu là một đối tượng vật lý, một bản sao mà khác về kích thước nhưng có cấu trúc, tính chất và cách thức vận hành như đối tượng gốc mà mô hình đó thể hiện.
Như vậy, mô hình là một hình thức mô tả bằng thay thế mà qua đó ta thấy được các đặc điếm, đặc trung hay tính chất của vật thể. Thôn qua mô hình, người xem có thể khám phá các thuộc tính của đổi tượng mà không cần đến vật thật. Mô hình có một số đặc trưng cơ bản sau đây : Thực tế cuộc sống luôn vận động và biến đồi, vì vậy mô hình không phải là bất biến Mô hình là vật đại diện, vật trung gian cho sự nghiên cứu Mô hình là sản phẩm của quá trình tư duy Mô hình không thể thay thế hoàn toàn vật gốc ỉ. Mô hình hóa Maab (2006) định nghĩa NL MHH bao gồm các kĩ năng và khả năng thực hiện quá trình MHH nhằm đạt được mục tiêu xác định cũng như sẵn sàng đưa ra những hành động [21], Kaiser (2007) có quan điếm khá gần với Maab, cho rằng NL MHH đặc trưng cho khả năng thực hiện toàn bộ quá trình MHH và phản ánh về quá trình đó [19], Hai tác giả Henning và Keune (2004) 9 định nghĩa NL MHH là tô hợp những thuộc tính của cá nhân người học như: Kiến thức, kĩ năng, thái độ và sự sằn sàng tham gia vào hoạt động MHH nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả.
Hai tác giả này còn dựa trên nghiên cứu của Blum và các cộng sự (2002) để xác định NL MHH chi tiết hơn, bao gồm khả năng xây dựng mô hình, thông dịch giữa thế giới thực và thể giới toán học, làm việc với mô hình toán như chính xác hóa và đánh giá các mô hình toán, phản ánh về kết quả của những mô hình đó để điều chỉnh quá trình MHH nếu cần thiết. Các định nghĩa tuy có khác nhau, nhưng đều chung một điểm ở chỗ gắn NL MHH với việc thực hiện quá trình MHH nhằm giải quyết một vấn đề thực tế [24]. Để làm rõ thêm định nghĩa này, cần phải nói rõ rằng MHH là quá trình giải quyết những vấn đề thực tế bằng các công cụ toán học. Nhiều tác giả đã nghiên cửu, công bố và đưa ra các mô tà khác nhau cho quá trình đó, gọi nó là quy trình MHH.