Chương 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRƯỜNG THPT 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm hoạt động dạy học; dạy học môn Toán * Hoạt động dạy học Hoạt động dạy học ở nhà trường phổ thông giữ vị trí trung tâm bởi nó chiếm hầu hết thời gian, khối lượng công việc của thầy và trò trong một năm học, nó quyết định kết quả đào tạo, làm nền tảng quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường. Hoạt động dạy học bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học.
Trong hoạt động dạy, thầy là chủ thể, là người tổ chức, điều khiển hoạt động học của HS; đối tượng tác động của thầy là hoạt động học tập của HS; mục đích của hoạt động dạy là phát triển trí tuệ, phát triển năng lực - yếu tố cơ bản, trực tiếp hình thành nhân cách phát triển toàn diện của HS; nội dung hoạt động dạy là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kể cả phương pháp hoạt động nhận thức (học vấn phổ thông) cần trang bị cho HS; phương pháp giảng dạy của thầy là sự vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại theo các cách tiếp cận và ở các cấp độ khác nhau nhằm tổ chức cho HS hoạt động nhận thức và phát triển trí tuệ (Trường Cán bộ quản lý giáo dục TP Hồ Chí Minh, 2010). Trong hoạt động học, HS là chủ thể, dưới sự hướng dẫn của thầy, HS hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo nhằm chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực, hình thành nhân cách theo mục tiêu giáo dục. Hoạt động học tập của HS càng có ý thức và tự giác khi xác định được đúng mục đích, động cơ rõ ràng. Trong hoạt động này, mục đích học tập là trên cơ sở tiếp thu văn hóa nhân loại chuyển thành năng lực bản thân, học để hành, để vận dụng kiến thức giải quyết những vấn đề thực tiễn; nội dung học không chỉ lả hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn cả kiến thức về phương pháp học, phương pháp nhận thức, phương pháp giải qyết những vấn đề thực tiễn; phương pháp học là phương pháp hoạt động nhận thức và thực hành, đặc biệt là phương pháp tự học (Trường Cán bộ quản lý giáo dục TP Hồ Chí Minh, 2010).
Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nhiệm vụ dạy học, hoạt động dạy và 9 học của thầy và trò, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện dạy học, kết quả dạy học. Phân tích mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, có thể kết luận: Hoạt động học trong đó có hoạt động nhận thức của HS giữ vai trò quyết định kết quả dạy học, do vậy để hoạt động học có kết quả tốt thì trước tiên phải coi trọng vai trò chủ đạo của GV, GV phải nắm vững quy luật nhận thức “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” (V.Lênin), tổ chức tối ưu hoạt động cộng tác của dạy và học, thực hiện tốt các chức năng của dạy và học, đảm bảo mối liên hệ thường xuyên, bền vững. Như thế, muốn nâng cao mức độ khoa học của việc dạy học trong nhà trường thì hiệu trưởng phải đặc biệt chú ý hoàn thiện hoạt động dạy của GV, chuẩn bị cho họ có khả năng hình thành và phát triển ở HS các phương pháp, cách thức phát hiện lại các thông tin học tập. Đây là khâu cơ bản để tiếp tục hoàn thiện tổ chức hoạt động học của HS.
Từ sự phân tích trên có thể hiểu: Hoạt động dạy học trong nhà trường bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Hai hoạt động này luôn thâm nhập và tương tác với nhau. Trong đó, thầy đóng vai trò chủ đạo, tổ chức, điểu khiển hoạt động học của HS, HS đóng vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực dưới sự hướng dẫn của thầy, nhằm hình thành nhân cách theo mục tiêu giáo dục của nhà trường. * Dạy học môn Toán Cũng như các môn học khác, việc dạy học môn Toán cần được thực hiện bởi hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo của người học.
Khi cần hướng dẫn một nội dung Toán học cho HS, người dạy phải biết phân tích nội dung đó liên quan với những hoạt động nào. Tiếp tục phân tích một số hoạt động tương tác có thể xảy ra thành những hoạt động thành phần rồi căn cứ vào mục tiêu tiết học, trình độ HS và trang thiết bị hiện có mà lựa chọn cho HS tập luyện và thực hiện một trong số những hoạt động trong nội dung cần dạy. Nội dung dạy học môn môn Toán ở nhà trường THPT liên hệ mật thiết với những dạng hoạt động sau đây: nhận dạng và thể hiện, những hoạt động trí tuệ phổ biến trong dạy học môn Toán, những hoạt động trí tuệ chung và những hoạt động ngôn ngữ, những hoạt động Toán học phức hợp. Những tri thức cơ bản của môn Toán cần cung cấp cho 10 HS phải là những tri thức hiện đại, phản ánh được những thành tựu mới nhất của KHCN, văn hóa phù hợp với chân lý khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Như vậy, hoạt động dạy học môn Toán là quá trình tổ chức điều khiển HS lĩnh hội những tri thức, mà thông qua hoạt động soạn giảng, kiểm tra. GV vận dụng phương pháp phù hợp truyền đạt kiến thức, hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định, đặc biệt những kỹ năng, kỹ xảo có liên quan tới hoạt động học tập, tự học và tập dượt nghiên cứu khoa học ở mức độ thấp, nhằm giúp cho HS không những chỉ nắm vững tri thức mà còn biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức môn Toán trong các tình huống khác nhau nhằm đạt được mục tiêu dạy học môn Toán. Khái niệm năng lực; phát triển năng lực toán học. * Năng lực Khái niệm năng lực, được nhiều tác giả ở nhiều lĩnh vực đã đưa ra định nghĩa phù hợp theo lĩnh vực của mình.
Theo nhà tâm lí học người Nga thì: “Năng lực được hiểu như là: Một phức hợp các đặc điểm tâm lí cá nhân của con người đáp ứng những yêu cầu của một hoạt động nào đó và là điều kiện để thực hiện thành công hoạt động đó”. (Jonas Hall , Thomas Lingefjärd, 2016) Tác giả Phan Anh Tài (2016, tr.16), cho rằng: "Năng lực của mỗi người là tổ hợp đặc điểm tâm lí cá nhân thể hiện trong một hoạt động nào đó đáp ứng yêu cầu thực hiện một nhiệm vụ đặt ra". Theo Đỗ Đức Thái và nnk (2020, tr.9-10) đã trình bày quan nhiệm chung được nhiều người thừa nhận hiện nay là: “Năng lực đó là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, … thực hiện thành công một loại hoạt động thực tiễn nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a) xác định năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, … thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu (yêu nước, 11 nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và những năng lực cốt lõi (năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất). Như vậy, có nhiều quan niệm về năng lực, nhưng chúng tôi thống nhất theo quan niệm của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a), dựa vào đó để phân tích và nghiên cứu cho đề tài này. * Năng lực học sinh Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ,. phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính bản thân học sinh trong cuộc sống.
Nhóm tác giả nghiên cứu biên soạn chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 đã tách các năng lực cần hình thành ở người học phổ thông thành 2 nhóm năng lực: - Các năng lực chung: Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân: Năng lực tự học; Năng lực giải quyết vấn đề; Năng lực sáng tạo; Năng lực tự QL. Nhóm năng lực về quan hệ xã hội: Năng lực giao tiếp; Năng lực hợp tác. Nhóm năng lực công cụ: Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT); Năng lực sử dụng ngôn ngữ; Năng lực tính toán. - Các năng lực chuyên biệt: (chia thành 7 môn học/lĩnh vực học tập) (1) Tiếng Việt; (2) Tiếng nước ngoài; (3) Toán; (4) Khoa học Tự nhiên, công nghệ; (5) Khoa học xã hội và nhân văn; (6) Thể chất; (7) Nghệ thuật; ….
Như vậy, năng lực của học sinh là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng,…mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội,…thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của HS trong môi trường sống thực tế. * Phát triển năng lực toán học Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học (1996): Phát triển có nghĩa là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp. (Nguyễn Như Ý & Nguyễn Văn Khang, 1996, Tr. 12 Theo Từ điển Anh Việt – Viện ngôn ngữ học thì “phát triển” (Develop) có nghĩa là “Làm cho ai/ cái gì tăng trưởng dần dần; trở nên hoặc làm cho trưởng thành hơn, tiến triển hơn hoặc có tổ chức hơn”.