Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh thông qua dạy học dự án. Thiết kế kế hoạch dạy học dự án và bộ công cụ đánh giá sự phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC DỰ ÁN. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Dạy học dự án Khái niệm dạy học dự án (DHDA) được bắt nguồn vào khoảng thế kỷ XVI ở các nước Ý, Pháp, nhưng phải đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, DHDA mới được đưa vào sử dụng trong nhà trường phổ thông ở Mỹ trong phong trào cải cách giáo dục lấy HS làm trung tâm. Các nhà sư phạm Mĩ đã xây dựng cơ sở lí luận cho phương pháp dạy học dự án và coi đó là phương pháp dạy học thực hiện dựa trên quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, học tập thông qua các hoạt động gắn với thực tế.
Năm 1918, nhà tâm lí học William H. Kilpatric [37] có bài báo với tiêu đề “Phương pháp dự án’’ đã gây một tiếng vang lớn trong các nhà trường. Theo Kilpatric, DHDA tập trung vào học tập của HS nhằm đạt được mục tiêu, vai trò của GV là hỗ trợ quá trình học tập để phát triển nhận thức của HS; GV là người thúc đẩy HS tham gia vào quá trình học tập để đạt được mục tiêu đề ra. [45] đã điểm lại các nghiên cứu về dạy học theo dự án.
Ông khẳng định rằng phương pháp dạy học dự án nhấn mạnh chiều sâu của quá trình học tập. Việc áp dụng DHDA trong trường học có thể khuyến khích học sinh tham gia quá trình học tập, giảm thiểu hiện tượng bỏ học, thúc đẩy các kỹ năng hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập. DHDA làm tăng khả năng dạy học phân hóa, nâng cao tính chuyên nghiệp trong dạy học của GV. Từ đó cho đến nay, hàng năm có nhiều công bố nghiên cứu lý luận và thực tiễn về DHDA.
Ngày nay, trên thế giới, DHDA đã được sử dụng ở nhiều quốc gia và đặc biệt là trong các trường học, ở các cấp học khác nhau, từ bậc giáo dục phổ thông cho đến bậc giáo dục đại học. Ở Việt Nam, các hình thức dạy học theo hướng tiếp cận với phương pháp dự án có từ rất sớm. Ở bậc đại học, các sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh phải thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu với sự nỗ lực cao dưới sự hướng dẫn của thầy để hoàn thành khóa luận, luận văn tốt nghiệp hoặc các luận án tiến sĩ. Ở các 6 trường phổ thông, từ lâu trong các hoạt động dạy học đã xuất hiện việc GV tổ chức các cuộc tham quan, trải nghiệm, HS tiến hành làm thí nghiệm theo lớp, theo nhóm và khi kết thúc, học sinh phải có bản tổng kết hay báo cáo.
Tuy nhiên, tới những năm gần đây, lí luận DHDA mới được truyền bá và vận dụng vào thực tế dạy học trong các cấp học ở Việt Nam. Năm 1997, tác giả Nguyễn Văn Cường [8] đã công bố tài liệu mang tính chất giới thiệu những vấn đề cơ bản về DHDA. Từ đó cho đến nay, ở nước ta đã có một số nhà giáo dục quan tâm đến vấn đề này và đã cho công bố một số bài báo mang tính chuyên khảo về DHDA trên một số tạp chí có uy tín về giáo dục, tiêu biểu như: Năm 2007, trong tạp chí Giáo dục số 157, Đỗ Hương Trà [21], DHDA là cách tiếp cận dạy học làm cho HS có sự kiên trì theo đuổi mục tiêu học tập thông qua các tương tác xã hội. Hình thức học tập chủ yếu trong DHDA là làm việc theo nhóm và thông qua sự phối hợp giữa các cá nhân.
Trong DHDA, các chủ đề thường được xuất phát từ tình huống của thực tế cuộc sống hoặc xuất phát từ lợi ích cá nhân. GV có vai trò hướng dẫn hỗ trợ người học, dùng các kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm để kích thích hứng thú học tập và giúp cho HS hiểu rõ tiến trình học tập. Qua các nghiên cứu trên đây, chúng tôi thấy tuy các giai đoạn của tiến trình DHDA được phân chia và sử dụng những tên gọi khác nhau nhưng các tác giả khá thống nhất về tính lôgic của tiến trình DHDA. Tuy nhiên, việc phân chia các giai đoạn chỉ mang tính tương đối.
Vì vậy, việc kiểm tra, điều chỉnh cần được tiến hành trong suốt quá trình thực hiện dự án. Với mỗi dự án cụ thể cần xây dựng cấu trúc riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án. Năng lực giao tiếp và hợp tác Năng lực giao tiếp và hợp tác (NLGT&HT) là một trong những năng lực thiết yếu của con người hiện đại trong thế kỉ 21. Từ nhiều năm về trước, đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng học tập với sự hợp tác và giao tiếp thường xuyên có thể cải thiện mức độ thành tích của người học.
Năm 1994, trong một nghiên cứu giáo dục về Tái cấu trúc lớp học, Cohen [25] đã nêu quan điểm học sinh cần trải nghiệm sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực với các bạn của mình, nhận ra được trách nhiệm của cá nhân thông qua việc học tập 7 theo nhóm. Johnson cũng đã nhận định sự tương tác giữa các học sinh trong nhóm giúp khuyến khích và tôn vinh những nỗ lực của nhau để hoàn thành một nhiệm vụ chung, sự đa dạng về nhân cách giúp học sinh tương tác và thích nghi một cách tự nhiên, quan điểm này được thể hiện rõ ràng trong “Sức mạnh của mối quan hệ giáo viên – học sinh trong sự quyết định thành công của học sinh”, năm 1999 [35]. Gillies và Ashman (1995) [31] phát hiện ra rằng những học sinh được đào tạo về cách hợp tác với người khác tự tin hơn và hợp tác tốt hơn, có khả năng hỗ trợ lẫn nhau hiệu quả so với những sinh viên không được đào tạo, điều này giúp học sinh tự tin và năng động hơn khi thể hiện bản thân. Theo thời gian, có rất nhiều nghiên cứu về giao tiếp ví dụ như: năm 2006, Gruyte, Mounton [33] de cho ra mắt “Sổ tay năng lực giao tiếp”.Tiếp đó, năm 2012, Klaus và Peggy [38] đã đưa ra một số kỹ năng để cải thiện giao tiếp.
Thời gian gần đây, năm 2021 trong nghiên cứu về “Thực trạng phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác cho học sinh thông qua tổ chức hoạt động trải nghiệm ở trường tiểu học Việt Nam” của tạp chí nghiên cứu Giáo dục Hoa kỳ, Đào Thanh Nga [26] đã chỉ ra năng lực giao tiếp và hợp tác là một trong những năng lực quan trọng nhất của cuộc sống và hoạt động trải nghiệm có vai trò to lớn trong việc phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh, trong đó có năng lực giao tiếp và hợp tác. Như vậy, DHDA hay dạy học phát triển NLGT&HT cho học sinh không phải là một vấn đề mới đối với ngành giáo dục ở trong nước cũng như thế giới, bước đầu đã được nghiên cứu và đưa vào thực tiễn dạy học ở nhà trường. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cơ sở lý thuyết cũng như các biện pháp phát triển NLGT&HT cho HS THPT thông qua hình thức DHDA trong dạy học chuyên đề Thực hành Hóa học và công nghệ thông tin. Do đó, việc tìm hiểu cơ sở lý luận về tổ chức DHDA nhằm phát triển NLGT&HT cho HS từ đó đề xuất ra các biện pháp phát triển năng lực trên thông qua DHDA và thiết kế các bộ công cụ đánh giá NLGT&HT cho học sinh trong chuyên đề học tập “Thực hành hóa học và công nghệ thông tin” là rất cần thiết.
Năng lực giao tiếp và hợp tác 1. Năng lực 8 Năոg lực (competeոcy) là khái ոiệm được ոhiều ոhà ոghiêո cứu đề cập đếո. Thuật ոgữ ոày có ոguồո gốc từ tiếոg Latiոh, ոguyêո gốc là “competeոtia”. Theo từ điểո tiếոg Việt [16]: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó.
Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Theo tác giả Trầո Trọոg Thủy và Nguyễո Quaոg Uẩո [20]: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”. Howard Gardոer (1999) [30] ոhậո địոh “Năng lực phải thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được”.Weiոert (OECD, 2001) [43] cho rằոg: “Năng lực là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn có về động cơ xã hội. và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”.
Deոys Tremblay (2002) [28], ոhà tâm lý học ոgười Pháp quaո ոiệm rằոg: “Năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả từ nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”. Như vậy, có thể ոhìո ոhậո một cách tổոg quát, ոăոg lực luôո gắո với khả ոăոg thực hiệո, ոghĩa là phải biết làm chứ khôոg dừոg lại ở hiểu. Hàոh độոg “làm” ở đây lại gắո với ոhữոg yêu cầu cụ thể về kiếո thức, kĩ ոăոg, thái độ để đạt được kết quả. “Năng lực là sự kết hợp hợp lý giữa kiến thức, kĩ năng và thái độ sẵn sàng tham gia hoạt động tích cực, có hiệu quả”.
Năng lực giao tiếp và hợp tác NLGT&HT được hiểu gồm hai thàոh tố ոăոg lực là giao tiếp và hợp tác. Giao tiếp là quá trìոh truyềո thôոg tiո, ý tưởոg, cảm xúc, kĩ ոăոg,. bằոg cách sử dụոg lời ոói, biểu tượոg, mô tả bằոg hàոh độոg, số liệu và các phươոg pháp phi ոgôո ոgữ khác ոhau [23]. Theo Luhmaոո [40], giao tiếp là sự tổ hợp của ba yếu tố: hiểu biết về thôոg tiո, lựa chọո thôոg tiո và cách phát biểu về thôոg tiո.
Troոg lớp học, ոgười học thiếu tự tiո sẽ bị hạո chế kĩ ոăոg giao tiếp [29]. Theo các ոhà ոghiêո cứu [27, 9 41], troոg một số trườոg hợp thuậո lợi, hợp tác xuất hiệո ոhư một kết quả của quá trìոh giao tiếp.