CHƯƠNG 1 Hướng nghiên cứu vận dụng B-leaming trong dạy học đang được quan tâm nghiên cứu rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam. B-leaming đã và đang chứng tỏ nhiều ưu điểm nỗi bật khi kết hợp cả dạy học trực tuyến và dạy học trực tiếp. Các nghiên cứu về mô hình đã xây dựng nên tảng lí luận vững chắc, đáp ứng nhu cầu dạy học trong thời đại công nghệ phát triển vượt bậc như hiện nay. 'Tuy nhiên, việc nghiên cứu B-learning trong dạy học chương trinh GDPT 2018 vẫn còn ít để tải.
Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn để tải "Vận dụng mô hình B- learning vào đạy học mạch nội dung "Chuyển động tròn” vật lí 10 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh” để thực hiện bởi chưa có công trình nào nghiên cứu về để tài nảy trước đó. CO SO Li LUAN VA THUC TIEN VE DAY HOC THEO MO HiNH B-LEARNING NHAM PHAT TRIEN NANG LUC GIAI QUYET VAN DE VA SANG TAO CUA HOC SINH 2. Phát triển năng lực giải quyết vấn để và sáng tạo. Khái niệm năng lực lên tiế năng lực được quy về ốp ứng để diễn tả khái niệm NL trực tiếp hoặc giản tiếp trong các trường hợp cụ thẻ: Competence (ning lic), Ability (kha néng), Capability (kha nang), Efficiency (higu quả), Capaciiy (khả năng, năng suất), Potentiality (tiểm năng).
'Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm NL là "ú¿ năng đấp ứng hiệu quả những yêu lu phức hợp trong một bỗi cảnh cụ thẻ ` (OECD, 2002). Với định nghĩa này, NL được quy về phạm trù khá năng nhưng cũng nhấn mạnh từ “hiệu quả” có nghĩa là đã bộc lộ qua một loạt các hành động cụ thể trông. một bổi cảnh nhất định. NL được định nghĩa là "khá năng đáp ứng thành công các yêu cẩu của một bồi cảnh cụ thể thông qua vận dụng các yếu tổ tâm lý xã hội (bao gôm cả khía cạnh nhận thức và phí nhậm thức” Theo đỏ, năng lực được hiểu là những cấu trúc tinh thắn bên trong của con người tạo điều kiện cho hành vì bao gồm các kỹ năng về nhận thức, kiến thức, động lực, giá trị, đạo đức, thị tình cảm và những yếu tố hành vi xã hội khác có thể được vận dụng một cách hiệu quả trong một tình huồng cụ thể (Rychen, 2003).
Năng lực không nên được xem là một thuộc tính cố định không thể thay đổi theo thời gian mà là kết quả của một quá trình học tập và rèn luyện của cả nhân thông. qua học tập độc lập và thông qua sự hướng dẫn, hỗ trợ của các cá nhân khác trong xã hội. Do đó, năng lực được xem như là tôn tại trên một thước đo liên tục. Đánh giá năng lực không phải lả việc kiếm định xem "cả nhân đó có sở hữu hay không sở hữu một năng lực nhất định hay một nhỏm năng lực mả là xác định xem kết quả hành 10 động của một người đạt được đang nằm ở đâu, cao hay thấp trên thước đo liên tục ấy" (Rychen.
Dưới góc độ tâm lí học, dựa trên tống hợp của Nguyễn Thị Huệ, một số quan điểm về NL: Theo X. Rubinst ‹ "Năng lực là tổng thể các thuộc tỉnh tâm lý' của một người làm cho người đỏ phù hợp với một số loại hoạt động nhất định”. Theo Petropxki “NL là những đặc điểm tâm lỉ của cá nhân mà nhờ đỏ, việc tích lũy các kỹ năng. kỹ xảo được thực hiện một cách để dàng, nhanh chóng ", Theo N.
Xmiecnov “Những thuộc tính tâm lí nào đó của một cả nhân là điều kiện dé hoàn thành tốt một loại hoạt động nào đó được gọi là nang luc". (Hug, 2007) Tại Việt nam, đã có nhiều định nghĩa về NL được đưa ra. Theo từ điển Tiếng Vigt thi NL 1a khả năng, iều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nảo đó (phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nảo đó với chất lượng cao (Phê, 2005). Dưới góc độ tâm lí “ME tà những đặc điể: tâm lí cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó vả là điều ện đẻ thực hiện có hiệu quả hoạt động đỏ”.
Theo chương trình giáo dục phổ thông chương trình tổng thế: *Vữ, fà thuộc tỉnh cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tổ chất sẵn cỏ và quả trình học tập. rên luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tỉnh cả nhân khác nhưc hứng thủ, niềm tin, ý chỉ. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể" (Bộ giáo dục và đảo tạo, 2018) Theo Hoàng Hòa Bình (2015): *NL đóng vai trò là một thuộc tính mà với sự mở rộng nghĩa của từ này ~ bao hàm không chỉ các đặc tính bẩm sinh mà cả những đặc tính được hình thành vả phát triển nhờ quá trình học. rẻn luyện của con người.
Ở đầu vào NL (cấu trúc bể mặt), nỏ được tạo thành từ kiến thức, kĩ năng và thái độ. Ở dau ra NL (cấu trúc bề sâu), các thành tế đó trở thành NL hiéu, NL lim vả NL ứng xử. Mỗi NL ứng với một loại hoạt động, có thể phân chia thành nhiễu NL bộ phận; bộ phận nhỏ nhất, gắn với hoạt động cụ thể lả hành vi. Tác giá cũng nhấn mạnh, để phân biệt NL với những khái niệm khác củng phạm trủ.
cúc tải liệu trong nước vả nước ngoài đều thống nhất quan niệm NI. cá nhân phải được bộc lộ qua hoạt động (hành động, công việc) nhằm đáp ứng những yêu cầu cụ thể trong bỗi cảnh (điều kiện) cụ thể. Đây là đặc trưng phân biệt NL với tiềm năng (potential) - khả năng ấn giấu bên trong, chưa bộc lộ ra, chưa phải là hiện thực (Bình H., 2015) Nghiên cứu của Trần Thị Quỳnh Trang “Năng lực là tổ hợp ến thức, kĩ năng. hoạtđộng có hiệu quả, thểhiện qua cách vận dung kiến thức lĩnh hoạt, sử dụng kĩ năng thành thạo, sáng tạo vả thể hiện thái độ phủ hợp với yêu cầu của hoạt động, nhằm đảm bảo hoạt động tiến hành có hiệu quá” (Trang T., 2019) Trong khuôn khô luận văn, chủng tôi tập trung chi din cdc dinh nghia vé NL dưới góc độ tâm lí và giáo dục.
Dựa trên các định nghĩa về NL trên thế giới cũng như Việt Nam đã nêu ở trên, chúng tôi thông nhất. vẻ nội hàm, có thể hiểu NL lả: khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỳ năng và các thuộc tính tâm lí cả nhân khác. như đam mẻ, niềm tin, ÿ chí. của một người để tiến hành hoạt động cỏ hiệu qua, đây cũng là một trong những yếu tổ quan trọng để cá nhân cỏ thể hoàn thành một công việc nảo đó có hiệu quả hơn so với người khác va được biểu hiện thông qua hoạt động.
NL được hình thành, phát triên nhờ tổ chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện. Cũng cần nói thêm rằng, nếu dựa trên định nghĩa năng lực trên thì đã bao gồm phẩm chất. Tuy nhiên, trong định hưởng thực hiện CTGDPT 2018. tách riêng một số phẩm chất quan trọng đẻ phát triển.
Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. © Năng lực giải quyết vấn dé NLGQVD ca HS được hiểu là sự huy động tông hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ, xúc cảm. động cơ của HS đó để giải quyết các tỉnh huống thực tiễn trong bối cảnh cụ thể mà các giải pháp không có sẵn ngay lập tức. Cùng theo nhóm tác giả, NLGQVP là một trong những năng lực cốt lõi của dạy học Vật lí, nó cẳn được thể hiện xuyên suốt qua các hoạt động của người học: từ phát hiện vấn để, để xuất giả thuyết, lập kể hoạch giải quyết vấn để đến xem xét lại toàn bộ quả trình giái quyết vấn đẻ và phát hiện vẫn đẻ mới.
+ Năng lực sắng tạo 12 Theo tac gid VO Thj Tuyét Mai (2008) “NL sáng tạo thể hiện ở khả năng có thể tạo ra những cái mới, đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống mà bằng những kinh nghiệm và những cái đã biết không đủ để đáp ứng được”, *NL sáng tạo thể hiện ở khả năng giải quyết vấn để mả thực tiễn cuộc sống đặt ra”. (Mai, 2008) “Theo tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, NL sáng tao thé hiện qua một số đặc trưng: + Biết kiếm tra, đánh giá hiệu quả cách GQVĐ cúa bản thân vả của những người khác. + Biết điều chỉnh các phương án GQVĐ một cách nhanh chóng và phù hợp với điểu kiện thực tiễn. +Tự chú, tin tưởng vào khả năng GQVĐ của bản thân.
Không nản chỉ trước một vấn đễ khó mà tìm mọi cách để tìm ra phương án tốt nhất. Theo tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, có 3 mức độ nâng cao năng lực sáng tạo của HS như sau: + Mite dé 1: van dung cai đã biết, đã lảm vào tình huống tương tự. + Mức độ 2: vận dụng cái đã biết vào tình huồng có một số yếu tổ mới. + Afức độ 3: đề xuất vấn đề khác hẳn cái đã biết.
+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (NLGQVĐ&ST) của HS là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ. động cơ, cảm xúc đẻ phân tích, để xuất các biện pháp, lựa chọn giải pháp vả thực hiện giái quyết những tình huống. những vấn để học tập và thực tiễn mà ớ đó không cỏ sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường.
đồng thởi đánh giá giải pháp giải quyết vấn để đế điều chỉnh và vận dụng linh hoạt trong hoàn cảnh, nhiệm vụ mới. (Bộ giáo dục và đảo tạo, 2018) “NLGQVDAST trong hoc tap là khả năng GOVĐ học tập để tìm ra những cải mới ở mức độ nào đỏ. Đề có S008 chủ thể phải ở trong tình huỗng có vấn để tìm cách thuẫn nhận thức hoặc hành động và kết quá là đề ra được phương án giải quyết cỏ tỉnh mới " (Bộ giáo dục và đào tạo, 2018) Cần chúý rằng, trong nhiều trường hợp sự biểu hiện một phần nội hàm của mỗi năng lực không hoàn toản tách rời, phân biệt với nội hàm của năng lực khác mà có 13 thé giao nhau, Ví dụ như biểu hign “Phat hign va néu durge tinh hudng có vấn để trong học tập” hay “Để xuất được giái pháp giái quyết vẫn đề” thuộc năng lực Giải quyết vấn đề nhưng cũng thuộc Năng lực sáng tạo. Chúng tôi không tách biệt NL sáng tạo và NL GQVĐ, ma coi hai NL nay bao ham lẫn nhau, trong giải quyết vấn để có sáng tạo.
Nhà giáo dục học I.