CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông 1. Một số quan điểm chỉ đạo đổi mới Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, để tiếp cận với trình độ phát triển của các nước tỏng khu vực và trên thế giới, Việt Nam đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của GD. Mặc dù, trong các giai đoạn phát triển vừa qua, GD Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả đáng kể, song, GD cũng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Với xu thế chung của toàn thế giới khi bước vào thế kỷ XXI là tiến hành đổi mới mạnh mẽ nền GD thì GD Việt Nam cũng đang có những đổi mới căn bản, toàn diện dựa trên những đường lối, quan điểm chỉ đạo của Nhà nước. Được đại hội Đảng lần thứ IV của Đảng thông qua trong Nghị quyết số 14 ngày 11/01/1979 về cải cách GD của bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương khóa IV đã xem GD trở thành một phần trọng tâm của cách mạng tư tưởng, thực hiện nguyên lý GD “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Tầm quan trọng của GD tiếp tục được nhấn mạnh một lần nữa trong Đại hội Đảng lần thứ VIII là “giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu”. Trong Đại hội Đảng lần thứ IX cũng đã chỉ ra phát triển GD là một trong các động lực đẩy mạnh sự phát triển của nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện nhằm phát huy hết tiềm năng con người – nhân tố quan trọng của tiến bộ xã hội.
Phải nâng cao năng cao chất lượng giáo dục thông qua thay đổi PPDH, nội dung, hệ thống nhà trường và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa. 6 Ngày 04/11/2013 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, trong đó nhấn mạnh “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học” [1] Văn kiện Đại hội XIII của Đảng yêu cầu xác định rõ mục tiêu của GD, đào tạo trong giai đoạn sắp tới nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, NL, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc và “Chú trọng giáo dục phẩm chất, NL sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [22] Đảng và nhà nước đã và đang có những quan điểm định hướng cụ thể, làm cơ sở và hành lang pháp lý cho việc đổi mới GD toàn diện về mục tiêu, phương pháp, nội dung, kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển NL cho học sinh 1. Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Trong quá trình thực hiện các nghị quyết của Đảng, của Quốc hội, chương trình GDPT của Việt Nam đã có những bước đổi mới căn bản và toàn diện. Chương trình GDPT đã có nhiều thay đổi lớn từ quá trình GD chủ yếu truyền thụ, trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện các NL và PC của người học.
7 Với nội dung chương trình GDPT xây dựng theo hướng phát triển NL, HS sẽ tự tạo lập và phát huy các PC, NL được xã hội mong đợi qua những kiến thức căn bản, cần thiết và các phương pháp GD tích cực. Chương trình GD không còn nặng về truyền thụ kiến thức mà hướng tới giúp HS vận dụng được kiến thức đã học vào thực tiễn, HS hoàn thành được các các công việc và giải quyết được các vấn đề trong đời sống. Chương trình GDPT được đổi mới nhất quán ở cả nội dung GD, phương pháp GD và đánh giá kết quả GD. Về nội dung, kiến thức cơ bản, nền tảng của các môn học thuộc chương trình GDPT là những kiến thức cốt lõi, tương đối ổn định trong các lĩnh vực tri thức.
Ngoài ra, một số kiến thức tiếp tục được bổ sung, cập nhật để đáp ứng với yêu cầu của chương trình mới và nhằm phù hợp với những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật – công nghệ thông tin. Về phương pháp GD, trên tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, chương trình GDPT mới hướng tới áp dụng các phương pháp GD phát huy tính tích cực của HS, khắc phục những nhược điểm của các phương pháp GD truyền thống, phương pháp GD truyền thụ từ một chiều. Kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với các hoạt động thực hành trải nghiệm để học sinh vận dụng kiến thức vào thực tế. Về đánh giá kết quả GD, chương trình GDPT cũng có nhiều đổi mới.
Nếu như chương trình GD định hướng trang bị kiến thức trước đây trả lời câu hỏi: “Học xong chương trình, HS biết được những gì?” thì chương trình GD hiện nay hướng tới trả lời câu hỏi: “Học xong chương trình, HS làm được những gì?”. Trước đây, kết quả học tập của học sinh thường được đánh giá chủ yếu dựa trên các bài kiểm tra và điểm số. Giờ đây, chương trình GD mới khuyến khích kết hợp nhiều phương pháp đánh giá khác nhau (quan sát, ghi lại quá trình thực hiện, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, dự án học tập, nhiệm vụ thực 8 tiễn,…) đồng thời cũng hướng tới việc GV lựa chọn các phương pháp, đánh giá phù hợp với từng thành phần NL của HS. Năng lực và phát triển năng lực trong dạy học 1.
Khái niệm năng lực Có nhiều cách tiếp cận khác nhau của khái niệm năng lực. Có 3 từ chỉ năng lực trong tiếng anh: (1) ability định nghĩa năng lực theo nghĩa Tâm lý học (2) competence nói đến năng lực theo nghĩa thực hiện được các công việc thực sự (3) atribute diễn đạt năng lực nhuần nhuyễn trở thành thuộc tính hay phẩm chất của con người. Dưới góc nhìn GD, định nghĩa NL theo thuật ngữ competence được dùng ngày càng phổ biến. Một số định nghĩa và cách hiểu khái niệm NL trong GD được đưa ra như sau: Theo văn bản pháp quy về yêu cầu NL trong đào tạo nghề của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội có giải thích về năng lực: năng lực của người học tích lũy được sau khi tốt nghiệp là những kiến thức, kỹ năng, thái độ, trách nhiệm nghề nghiệp và khả năng làm việc của mình trên cơ sở vận dụng các kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm trong thực hiện, giải quyết công việc hù hợp với trình độ và ngành đào tạo Trong chương trình GD Trung học bang Québec, Canada năm 2004 đã đề cập tới năng lực như một khả năng làm việc tốt thông qua sự cố gắng trên nhiều nguồn lực.
Những nguồn lực phải được vận dụng thích hợp, bao gồm vốn kiến thức học tập ở trường, cùng với các trải nghiệm của học sinh về mặt kỹ năng, ý chí và lòng say mê; ngoài ra còn có các nguồn lực bên ngoài như các bạn học, các thầy cô, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác. [20] 9 Trong thông tư về đào tạo GV của Bộ GD – ĐT định nghĩa: “Năng lực của người học đạt được sau khi tốt nghiệp là khả năng làm việc cá nhân và làm việc nhóm trong… tương ứng với trình độ và ngành đào tạo trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng, thái độ, ý thức trách nhiệm…, tính chủ động sáng tạo trong giải quyết các vấn đề liên quan, tuân thủ các nguyên tắc về đạo đức…” [8] Chương trình GDPT tổng thể giải thích khái niệm NL như sau: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” Nhìn chung, khái niệm NL gắn liền với khả năng hành động. Năng lực hành động cũng là một loại NL, tuy nhiên, trong luận văn này, khi nói đến phát triển NL cũng hiểu là phát triển NL hành động.
Cấu trúc năng lực Có nhiều quan điểm tiếp cận cấu trúc của NL khác nhau. Theo các nhà sư phạm nghề Đức (Bend Meier, Nguyễn Văn Cường, 2011), cấu trúc của NL (NL hoành động) là sự kết hợp của bốn NL thành phần: NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội và NL cá thể. Năng lực chuyên môn (Professional competency) là khả năng hoàn thành một cách độc lập các công việc chuyên môn và có hệ thống báo cáo hiệu quả kết quả chuyên môn. NL chuyên môn có thể tiếp thu thông qua quá trình học tập các kiến thức chuyên môn, kết hợp với khả năng nhận thức và tâm lý vận động.
Năng lực phương pháp (Methodical competency) là khả năng giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề một cách có kế hoạch và có định hướng rõ ràng về mục đích. NL phương pháp gồm NL phương pháp chung, NL phương pháp 10 chuyên môn. Trọng tâm của NL phương pháp chính là các kỹ năng thu nhận, phân tích, xử lý và truyền đạt cũng như trình bày kiến thức. NL phương pháp có thể tiếp thu trong quá trình học tập phương pháp luận - xử lý tình huống.
Năng lực xã hội (Social competency) là quá trình xác định mục đích trong những tình huống ứng xử xã hội và khả năng phối hợp nhịp nhàng với những người xung quanh. NL xã hội chủ yếu là thông qua việc thực hành giao tiếp. Năng lực cá thể (Induvidual competency) là sự hiểu biết, ý thức đúng đắn các mục tiêu phát triển và điều kiện của bản thân nhằm phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển bản thân, hình thành được quan điểm, giá trị đạo đức sống làm nền tảng cho mọi thái độ và hành vi ứng xử.