CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực và dạy học theo định hướng phát triển 1. Khái niệm về năng lực Khái niệm về năng lực phụ thuộc vào cách tiếp cận vấn đề nên có những cách hiểu và xây dựng định nghĩa khác nhau về năng lực. Tuy nhiên đế đảm bảo các đặc điểm bản chất của khái niệm, sự thống nhất và thuận tiện cho việc nghiên cứu đề tài thì định nghĩa năng lực theo chương trình giáo dục phổ thông, chương trình tổng thể (2018) cũng đã được nêu lên “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kì năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.32] Theo Tâm lí học định nghĩa: “Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt” [10, tr. Roegiers (1996) nghiên cứu năng lực theo hướng tích hợp định nghĩa: “Năng lực là sự tích họp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước, đế giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra” [21, tr. Weitnert (2001) định nghĩa: “Năng lực là những khả năng và kì xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [29, tr. Các tác giả Meier và Nguyễn Vãn Cường (2014) cho rằng: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”.54] Theo Vũ Quốc Chung (2018), năng lực được hình thành và phát triển qua chuỗi hoạt động huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm học tập đã có để giải quyết một vấn đề cụ thể trong học tập có kết quả (biểu hiện qua: kiến thức mới, kĩ năng mới, thái độ và kinh nghiệm học tập mới được hình thành) với những điều kiện cụ thể.
Qua các hoạt động giải quyết vấn đề đế tạo thành kiến thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm học tập mới, đồng thời các năng lực từng bước được hình thành. Quy trình đó được lặp đi, lặp lại qua nhiều bài học cụ thể, từng bước năng lực được phát triển.34] - Năng lực là sự kết họp giữa tố chất sẵn có của người học và quá trình học tập, rèn luyện tạo thành. Bởi vì năng lực là khả năng của mồi học sinh nên đặc thù tâm lí, sinh lí, yếu tố bẩm sinh và yếu tố xã hội sẽ ảnh hưởng đến năng lực của mỗi học sinh. - Năng lực là sự kết hợp của kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
- Năng lực của mồi học sinh được hình thành, phát triển thông qua các hoạt động và năng lực thể hiện rõ ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn. Vì năng lực của mỗi học sinh được bộc lộ thông qua các hoạt động, nên để chứng minh năng lực của một học sinh trong một lĩnh vực nào đó thì phải xem xét các hoạt động của học sinh trong lĩnh vực đó. 7 Từ những quan điểm về năng lực của các tác giả trên thì năng lực có thể hiểu là sự kết hợp của các kiến thức, kĩ năng, phẩm chất, thái độ và hành vi của một cá nhân đê thực hiện một công việc có hiệu quả. Năng lực không chỉ bao hàm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, mà còn cả giá trị, động cơ, đạo đức và hành vi xã hội.
Năng lực con người không phải có sẵn mà nó được hình thành và phát triền trong quá trình học tập và giao tiếp. Khái niệm năng lực toán học Cho đến nay có nhiều tác giả đưa ra quan niệm về năng lực toán học dưới các quan điểm khác nhau. 17], nếu nhìn nhận năng lực toán học dưới góc độ thu nhận và xử lí thông tin thì ông đã phân chia năng lực toán học bao gồm 3 thành tố cơ bản là: (1) Thu nhận thông tin toán học: Năng lực tri giác hình thức hóa tài liệu toán học, năng lực nắm cấu trúc hình thức của bài toán. (2) Chế biến thông tin toán học: Năng lực tư duy logic trong lĩnh vực các quan hệ số lượng và hình dạng không gian, hệ thống kí hiệu số và dấu.
Năng lực tư duy bằng các kí hiệu toán học. - Năng lực khái quát hóa nhanh chóng và rộng các đối tượng, quan hệ toán học và phép toán. - Năng lực rút gọn quá trình suy luận toán học và hệ thống các phép toán tương ứng. Năng lực tư duy bằng cấu trúc rút gọn.
- Tính linh hoạt trong quá trình tư duy trong hoạt động toán học. - Năng lực nhanh chóng và dễ dàng sửa sai lại phương hướng của tiến trình tư duy thuận sang tiến trình tư duy đào (trong suy luận toán học). Theo Roegiers [21, tr.34J: “Năng lực học toán là những đặc điểm tâm lý về hoạt động trí tuệ của học sinh, giúp họ nắm vững và vận dụng tương đối nhanh , dễ dàng, sâu sắc những kiến thức, kĩ năng, kì xảo trong môn toán. ” Theo Đỗ Đức Thái [18, tr.
12], Năng lực toán học bao gồm năm thành tố: Năng lực tư duy và lạp luận toán học; Năng lực tư duy và lập luận cho học sinh; Năng lực mô hình hóa toán học; Năng lực giải ciuyết vấn đề; Năng lực giao tiếp toán học; Năng lực sử dụng công cụ phương tiện toán học. Từ các quan niệm trên, trong luận văn này chúng tôi có cùng quan điểm với quan niệm về năng lực toán học như Đỗ Đức Thái xem năng lực toán học bao gồm năm thành tố: Tư duy và lập luận toán học; mô hình hóa toán học; sử dụng công cụ phương tiện toán học; giải quyết vấn đề; giao tiếp toán học. Như vậy việc phát triển cho học sinh năng lực tư duy và lập luận cho học sinh cũng là góp phần bồi dưỡng năng lực toán học cho học sinh để đáp ứng với dạy học theo chương trình môn toán mới theo định hướng phát triển năng lực. Việc làm rõ năng lực tư duy và lập luận cho học sinh sẽ được trình bày chi tiết trong mục dưới đây.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 1. Dạy học theo định hướng phát triền năng lực Một trong những định hướng cơ bản của việc đối mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nên giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đồi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỳ năng, phát triển năng lực.
Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.’’ Theo Đặng Thành Hưng (2014), "bản chất của dạy học tiếp cận năng lực là lấy năng lực làm cơ sở (tham chiếu) để tổ chức chương trình và thiết kế nội dung học tập. Điều này cũng có nghĩa là năng lực của HS sẽ là kết quả cuối cùng cần đạt được của quá trình dạy học hay giáo dục. Nói cách khác, thành phần cuối cùng và cơ bản của mục tiêu giáo dục là phẩm chất và năng lực của người học.
Năng lực vừa được coi là điểm xuất phát, đồng thời là sự cụ thể hóa cùa mục tiêu giáo dục. Vì vậy, những yêu cầu về phát triển năng lực HS cần được đặt đúng chồ của chúng trong mục tiêu giáo dục". Theo Đồ Đức Thái (2020), dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực cần nhấn mạnh: - Muốn có năng lực, HS phải học tập và rèn luyện trong hoạt động và bằng hoạt động. Mặt khác, các năng lực cũng được hình thành trong quá trình dạy học và không chỉ ở nhà trường mà còn dưới tác động cùa gia đình, xã hội, của chính trị, tôn giáo, văn hóa.
10 - "Lấy việc học của HS làm trung tâm", chú ý tới mồi cá nhân HS, giúp họ tự tìm tòi, khám phá, làm chủ tri thức và vận dụng vào giải quyết các tình huống thực tế cuộc sống, qua đó có thể rút ra kinh nghiệm và tri thức cho riêng mình. - Kết quả đầu ra của người học, những gì người học làm được sau khi kết thúc chương trình học hoặc kết thúc bài học, nhấn mạnh đến khả năng thực tế của HS. - Cách học, yếu tố tự học của người học. Thay vì lối dạy truyền thống thầy giảng trò nghe, có thể tổ chức cho cá nhân tự học, học theo nhóm, học theo sở thích và mối quan tâm riêng của người học,.
- GV là người thiết kế, tổ chức và hướng dẫn HS tích cực, tự lực thực • hiện • các nhiệm • vụ• học • tập. • 1 - Môi trường dạy học phải tạo điều kiện tương tác tích cực giữa HS với HS, giữa GV với HS, thúc đẩy và tạo cho HS hiện thực hóa năng lực của mình thông qua quan sát, tìm tòi, khám phá, sáng tạo. - Khuyến khích việc ứng dụng công nghệ, thiết bị dạy học ( đặc biệt là ứng dụng công nghệ và thiết bị dạy học hiện đại) nhằm tối ưu hóa việc phát huy năng lực của người học. Tóm lại, đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chồ quan tâm đến việc HS “biết được cái gì” đến chỗ quan tâm HS “làm được cái gì” qua việc học.