CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Theo tài liệu Tìm hiểu "Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán" (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) , Môn Toán ở trường phổ thông góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học cho học sinh; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, vận dụng toán học vào thực tiễn; tạo lập sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa Toán học với thực tiễn, giữa Toán học với các môn học và hoạt động giáo dục khác, đặc biệt với các môn Khoa học, Khoa học tự nhiên, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Công nghệ, Tin học để thực hiện giáo dục STEM. Trong chương trình môn Toán năm 2018 đưa ra mục tiêu là hình thành và phát triển năng lực toán học bao gồm: năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán. Trong phạm vi một đề tài, luận văn xin đề cập chủ yếu đến năng lực GQVĐ toán học và phát triển năng lực này thông qua dạy học chuyên đề ứng dụng đạo hàm tìm cực trị hàm đa thức trong chương trình Giải tích 12 - Trung học phổ thông. Hoạt động tư duy trong học tập môn Toán 1.
Đặc điểm của hoạt động tư duy trong dạy học môn Toán Tư duy của con người là một hoạt động có nhiều đặc điểm phức tạp như tính có vấn đề, tính trừu tượng, tính khái quát, tính chất lý tính, tính gián tiếp. Nhưng đối với hoạt động dạy học thì đặc điểm nổi bật là có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ. Vì trong hoạt động tư duy của con người luôn gắn liền với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương tiện và không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ. Mặt khác, ngôn ngữ cũng không thể tồn tại nếu không dựa vào quá trình tư duy của con người.
Khi con người ta học toán là phải biết vận dụng toán học để giải quyết những bài toán có nguồn gốc từ thực tiễn, mà muốn giải được những bài 4 toán đó thì đòi hỏi người học phải biết tư duy, biết chuyển từ tình huống cụ thể sang ngôn ngữ toán học bằng những hình ảnh trực quan hay kí hiệu toán học và biết chuyển ngược lại các kết quả toán học có được sang ngôn ngữ của thực tiễn.1: Học sinh có thể dựa vào bất đẳng thức AM-GM để giải quyết bài toán "Bác nông dân có 16m hàng rào hỏi phải rào khu vườn hình chữ nhật có kích thước như thế nào để có được diện tích canh tác lớn nhất ?" Hoạt động tư duy trong dạy học môn toán còn được thể hiện rõ nét nhờ vào nhiệm vụ nhận thức của người học. Cụ thể, khi giáo viên đặt ra cho học sinh một câu hỏi, một bài toán hay yêu cầu học sinh giải quyết một nhiệm vụ đó, tự mình huy động kiến thức, đi tìm sự liên hệ giữa cái chưa biết và cái đã biết, đưa ra dự đoán và nhận thấy mâu thuẫn khi vận dụng các phương pháp giải khác nhau và tự mình thấy mâu thuẫn.2: Trước khi dạy Ứng dụng đạo hàm để tìm cực trị của hàm số, giáo viên có thể đưa ra bài toán: "Tìm GTLN, GTNN của hàm số y x 4 2 x 2 1 trên đoạn 1; 3 ?", [6;tr.18] Rõ ràng đây là một bài toán có sự mới lạ với học sinh, trước đây học sinh mới chỉ biết được tìm GTLN, GTNN của hàm số bậc 2 học từ lớp 10 bằng cách lập bảng biến thiên, nhưng với ví dụ trên giải theo cách lớp 10 sẽ gặp rất nhiều khó khăn, do vậy nảy sinh vấn đề đặt ra là phải làm như thế nào, ngoài kiến thức lớp 10 còn có thể vận dụng mảng kiến thức nào để giải quyết bài toán, học sinh sau khi suy nghĩ có thể dự đoán được là phải dùng đến đạo hàm, xét dấu đạo hàm ta sẽ lập được bảng biến thiên và từ đó kết luận được GTLN, GTNN của hàm số trên đoạn đã chỉ ra. Các thao tác tư duy và hoạt động trí tuệ của học sinh Khi giải toán, học sinh phải thực hiện các hoạt động trí tuệ, đó là tập hợp các hành động để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trong quá trình nhận thức như: hành động cảm giác, hành động trừu tượng, hành động tri giác. Do vậy, khi 5 nghiên cứu hoạt động trí tuệ của học sinh trong học tập môn toán ta đi sâu vào hai vấn đề sau: * Thao tác tư duy mà học sinh thường vận dụng khi giải toán: - Phân tích - tổng hợp: Phân tích là quá trình phân chia vấn đề cần giải quyết thành các bước, các bộ phận, thuộc tính, các mối quan hệ trong đó để nhận thức dễ dàng hơn, sâu sắc hơn.
Còn tổng hợp là quá trình hợp nhất hóa các bộ phận, thành phần, thuộc tính, quan hệ của đối tượng nhận thức thành một đối tượng chỉnh thể. Tổng hợp và phân tích là các thao tác tư duy trái ngược nhau nhưng là hai mặt của quá trình thống nhất. - Trừu tượng hóa - khái quát hóa: Trừu tượng hóa là quá trình đơn giản hóa mọi thứ hay nói cách khác là gạt đi những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ không cần thiết mà không làm mất đi bản chất của nó để tư duy. Còn khái quát hóa là quá trình tổng hợp một số đối tượng có chung thuộc tính, những mối quan hệ, liên hệ nhất định thành một loại, một nhóm trừu tượng hóa là điều kiện cần để khái quát hóa.
- So sánh: là quá trình tư duy nhằm phát hiện được những đặc điểm giống và khác nhau của đối tượng, trong Toán học so sánh nhằm đưa đến sự tương tự hóa và khái quát hóa. [15, Tr 16] Trong quá trình giải toán, các thao tác tư duy trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tương trợ nhau, bổ sung cho nhau mà không phụ thuộc vào nhiệm vụ đó là gì. Vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên cần quan tâm rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy này.3: Tìm giá trị nhỏ nhất của hàm số y x 3 3 x 1 trên đoạn 1;1 ? Sau khi sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, so sánh và trên cơ sở sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ giải được bài toán trên cụ thể như sau: 6 x 1 [ 1;1] Ta có: y ' 3 x 2 3 ; y ' 0 . Suy ra min y 1.
1;1 Để rèn luyện các thao tác tư duy cho học sinh, người giáo viên có thể mở rộng bài toán trên như sau: "Tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của hàm số y cos3 x 3cos x 1 " Sau khi học sinh sử dụng thao tác so sánh, khái quát hóa sẽ phát hiện được là phải đưa bài toán có yếu tố lượng giác về bài toán quen thuộc bằng cách đặt t cos x với t [ 1;1] Ví dụ 1.4: Cho hàm số y f x có bảng biến thiên như sau: a, Tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số y f x trên 2;0 b, Tìm giá trị lớn nhất của hàm số f sin x 1 ? Học sinh thực hiện giải câu a không hề khó khăn, vì các em chỉ cần quan sát bảng biến thiên là có thể dễ dàng suy ra được GTLN của hàm số trên đoạn 2;0 là 3, đạt được khi x 2 và GTNN của hàm số là -3 đạt được khi x 0. Tuy nhiên khi các em đọc đến câu b, sẽ thấy có vấn đề phát sinh: bài toán chỉ cho bảng biến thiên của hàm số y f x mà lại yêu cầu tìm giá trị lớn nhất của hàm số f sin x 1 ?, học sinh có thể tự tìm phương án để GQVĐ hoặc giáo 7 viên có thể gợi ý thêm: "Làm thế nào để chuyển từ bài toán chưa biết cách giải về bài toán quen thuộc ?" Từ đó dẫn đến lời giải như sau: Đặt sin x 1 t ta có điều kiện 2 t 0 . Bài toán quy về tìm giá trị lớn nhất của hàm số y f t trên đoạn 2;0. Từ BBT ta có giá trị lớn nhất của hàm số y f t trên đoạn 2;0 là 3 khi t 2 hay sinx 1 x k 2 , k Z.
2 Vậy maxf sin x 1 3. Ở một cấp độ cao hơn, người giáo viên còn có thể đưa thêm các tình huống mang tính chất vận dụng để học sinh rèn luyện, như ví dụ sau: Ví dụ 1.5: Cho x, y là các số thực thỏa mãn: x 2 y 2 2. Tìm GTLN, GTNN của biểu thức: P 2( x 3 y 3 ) 3 xy ? Đây là một bài toán tìm GTLN, GTNN của một biểu thức 2 biến, rõ ràng việc áp dụng đạo hàm ngay là không ổn; hơn nữa việc sử dụng các bất đẳng thức thông thường có thuận lợi và dễ dàng hay không ? Rõ ràng là không dễ. Đây là một vấn đề mới phát sinh, vậy giải quyết như thế nào ? Nhận thấy đây là biểu thức đối xứng, có thể sử dụng giải pháp là đưa về một biến để sử dụng đạo hàm để tìm đáp số của bài toán.
Từ đó ta có thể nghĩ tới phương pháp đặt ẩn phụ; lời giải đề xuất như sau: Ta có: P 2( x y )( x 2 y 2 xy ) 3 xy 2( x y )(2 xy ) 3 xy. 2 ( x y)2 2 3 Do xy nên ta được P t 3 t 2 6t 3. 2 2 3 Xét hàm số f (t ) t 3 t 2 6t 3 , với t 2; 2. t 2 Lập bảng biến thiên của hàm số f(t) trên đoạn 2;2 ta được kết quả: 1 3 1 3 x ,y 13 2 2 ; minP = max P khi 7 khi x = y = 1 .