CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THUC TIEN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Ở Việt Nam, hoạt động đánh giá quá trình học tập của người học đang được quan tâm và có những nghiên cứu nhằm thúc đây lĩnh vực kiểm tra đánh giá. Sau đây, tôi sẽ trình bày những nghiên cứu liên quan hiện đã và đang nghiên cứu trong nước mà bản thân tiếp cận được.
Nghiên cứu về hoạt động kiểm tra đánh giá, nhóm tác giả Sái Công Hồng cùng cộng sự [9] đã đưa ra tông quát về hoạt động kiểm tra đánh giá, trong đó nhắn mạnh đến các công cụ đo lường như thang đo, bảng kiểm và các phương thức xử lí số liệu. Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày rõ ràng và ngắn gon va dễ hiểu về các phương pháp, kĩ thuật kiểm tra đánh giá trong giáo dục. Ngoài ra, tác giả đưa ra nhiều bảng biểu, mô hình mô tả phù hợp va dé hiểu. Tuy nhiên, cách đưa ra các tri thức của nhóm tac giả còn có phần quá cụ thé, làm cho người đọc mat thời gian để xác định ý chính của van dé.
Dé nói về hoạt động kiểm tra đánh giá thì không thé không nhắc đến cuốn Giáo trình kiểm tra đánh giá trong giáo dục của Nguyễn Công Khanh (2017), theo đó, nhóm tác giả đã đưa ra một cái nhìn tổng quát nhưng cũng khá cụ thê về hoạt động kiểm tra đánh giá, trong đó có gắn nhiều quan điểm phù hợp với quan điểm đổi mới giáo dục của Nhà nước. Phần nội dung và ngôn ngữ sử dụng được đưa ra rat logic, diễn giải dé hiểu. Nhưng tuy nhiên đối với phan các công cụ, kỹ thuật kiểm tra đánh giá trong giáo dục thì còn đơn giản, mang tính giới thiệu. Bên cạnh đó, theo Chu Câm Thơ và cộng sự [4], nhóm tác giả đã dựa vào khung năng lực toán phổ thông của HS Việt Nam của Đào Thai Lai (2012) dé phân tích từng năng lực, đưa ra công cụ đánh giá và đề xuất các ví dụ đánh giá.
Cụ thé, đối với từng năng lực thì các tác gia mô tả chi tiết va cụ thé các kiến thức va các dạng câu hỏi bài tập có liên quan, từ đó đề xuất các phương án đánh giá năng lực của HS thông qua các bài toán đặc thù. Về nội dung chương trình, không thé không nhắc đến Chương trình tổng thể chương trình GDPT 2018. Chương trình đưa ra tổng quát về chương trình GDPT, quan điểm trong xây dựng chương trình, mục tiêu giáo dục và đặc biệt là quan điểm đôi mới trong kiểm tra đánh giá. Cụ thé ở môn Toán, Chương trình GDPT môn Toán 2018 [1] đã đưa ra năm thành tố trong năng lực toán học và những yêu cầu cần đạt cụ thê đối với môn Toán về kiến thức, năng lực, phẩm chất.
Về ảnh hưởng của hoạt động đánh giá quá trình đến hành vi học tập của người học, theo Lê Thái Hưng và cộng sự [12], nhóm tác giả đã đưa ra mô hình với các nhân tổ ảnh hưởng trực tiếp đến động cơ học tập của sinh viên năm nhất Trường đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội. Cùng với đó, nhóm tác giả đã sử dụng các thang đo, công cụ tính toán dé phân tích mức độ ảnh hưởng của từng nhân t6. Ngoài ra, các tác giả cũng đưa ra các khuyến nghị cụ thể nhằm nâng cao động cơ học tập của người học. Bên cạnh đó, cụ thé đối với môn Toán, theo Chu Câm Thơ [5], tác giả đã đưa ra thực trạng về việc chấm bài kiểm tra viết của GV chủ yếu đòi hỏi việc tái hiện kiến thức mà ít yêu cầu khả năng vận dụng kiến thức.
Đặc biệt, tác giả cũng đưa ra phương pháp đánh giá, nhận xét của GV nhằm giúp HS tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình, trong đó đáng chú ý là biện pháp sử dụng đánh giá quá trình đa dạng hình thức nhằm tạo động cơ, động lực cho HS cùng với đó là kết quả thực nghiệm sư phạm tại các trường THCS trên địa bàn Hà Nội. Qua quá trình tìm hiểu, tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về đánh giá quá trình học tập của học sinh qua môn Toán, nhưng chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về đánh giá quá trình học tập của học sinh theo hướng phát triển năng lực Toán học trong dạy học chủ đề Giá trị lớn nhất, giá tri nhỏ nhất của hàm số lớp 12. Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đó, tôi tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về đánh giá quá trình học tập của học sinh theo hướng phát triển năng lực Toán học trong dạy học chủ đề Giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số lớp 12 góp phan nâng cao hiệu quả day học môn Toán ở trường THPT. Năng lực toán học 1.
Quan điểm về năng lực Xem [10]: “Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng thái độ. phù hợp với lứa tuéi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống”. Weinert (2001) nhắn mạnh tính sẵn sàng hành động trong khái niệm năng lực: “Năng lực là các khả năng và kĩ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thé học được dé giải quyết các vấn dé đặt ra trong cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội dé có thé sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp trong những tình huống thay đổi” [24].
Xem [11], theo quan điểm của những nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân; tuy nhiên, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà phần lớn do công tác, do tập luyện mà có. Theo chương trình tổng thể chương trình giáo dục phố thông 2018, năng lực bao gồm năng lực chung và năng lực đặc thù [1]. 4 Whe Cham hye Cham làm ey he You Trung thực con npuéi ¿ ) Yêu M PR oo đãtnác vey © Tự chủ Ngôn ngữ.
‘ ACc B vả Lự học 4 yg Siseticp = ed vả hđp tác | ©) 7. x Giải quyết © * văn đẻ và sang tạo Tin học (=. ry te Be -@- lẻ '” Thụ hiệhiếu Poh bởi. _P-Ì `tut nhiên h va xã hồi `Q ‘Cong nghệ ) a Tham my mm { x } ` Hình 1.
Các phẩm chất và năng lực cần định hướng phát triển ở học sinh trong chương trình giáo dục phổ thông mới Như vậy, có thể thấy rằng: Năng lực là sự tổng hợp của quá trình giáo dục, rèn luyện cá nhân thể hiện ở kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp để cá nhân tham gia vào một lĩnh vực hoạt động nhất định nào đó có hiệu quả. Năng lực toán học Theo Chương trình tong thé chương trình giáo dục phổ thông (2018) đưa ra chỉ tiết định nghĩa về năng lực: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chat sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thé” [1]. Theo Chương trình giáo dục phô thông tổng thé, môn Toán góp phần hình thành và phát triển cho học sinh năng lực toán học bao gồm các thành phần cốt lõi: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán [1].
Trong khung đánh giá năng lực Toán học của Chương trình đánh giá học sinh quốc tế ( PISA) cho rằng: “ Năng lực toán học là khả năng của cá nhân biết lập công thức, vận dụng và giải thích toán học trong nhiều ngữ cảnh. Nó bao gồm suy luận toán học va sử dụng các khái niệm, phương pháp, sự việc và công cụ dé mô tả, giải thích và dự đoán được các hiện tượng. Nó giúp con người nhận ra vai trò của toán học trên thế giới và đưa ra các phán đoán và quyết định của công dân biết góp ý, tham gia và suy ngẫm.” Khung đánh giá này cũng đề cập đến 3 mức độ năng lực toán phổ thông, cụ thé được thê hiện trong bảng dưới đây: ( = độ 1: ì * Nhớ lại các đối tượng, khái niệm, định nghĩa và tinh chất toán học. s Thực hiện được một cách lam quen thuộc.
én \ ; + Ap dụng một thuật toán tiêu chuẩn. ` * Kết nối, tích hợp thông tin đề giải quyết các van dé đơn giản. | Mức độ 2: * Tạo những kết nối trong các cách biéu đạt khác nhau. Kết nối- Tích * Đọc và giải thích được các kí hiệu va ngôn ngữ.hình thức (toán | bop hoc) va hiểu mối quan hệ của chúng với ngôn ngữ tự nhiên.
Biết phân tích, tông hợp, suy luận, lập luận khái quát hóa trong oo. chứng minh toán hoc. Khai quat * Nhận biết nội dung toán học trong tình huống có van đề phải giải hóa- Toán quyết. học hóa _ * Vận dụng kiến thức toán học đề giải quyết các van dé thực tiễn.
Mức độ năng lực Toán phổ thông 1. Biểu hiện cụ thé của năng lực toán học và yêu cầu can dat cho cấp THPT theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Theo [1], môn Toán góp phần hình thành và phát triển cho học sinh năng lực toán học (biểu hiện tập trung nhất của năng lực tính toán) bao gồm các thành phần cốt lõi sau: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán học; năng lực giải quyết vẫn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán. Biểu hiện cụ thé của năng lực toán học và yêu cầu cần đạt cho cấp học THPT được thé hiện trong bang sau [1]: Bang 1.