CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG TRUNG Ở TRƯỜNG THPT 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Cùng với sự ra đời của loài người, dạy học cũng xuất hiện. Khi mới bắt đầu, dạy học chưa được con người ý thức một cách đầy đủ, sâu sắc. Nó mang tính chất tự phát và bản năng.
Từ khi con người ý thức được vai trò của dạy học, thì cùng với nó là hoạt động quản lý giáo dục ra đời. Nhưng lý luận về QLGD chỉ thực sự nghiên cứu từ những năm đầu thế kỷ XX. Nhà trường từ lâu nay đã được thừa nhận như một thiết chế chuyên biệt của xã hội để GD thế hệ trẻ trở thành những công dân có ích cho xã hội. Vấn đề QL dạy học trong trường phổ thông thì QL quá trình dạy học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.
QL hoạt động dạy học là một bộ phận cấu thành chủ yếu của quản lý toàn bộ hệ thống GD đào tạo. Ở nước ta vấn đề QLGD nói chung đã được đặt ra từ sau cách mạng tháng 8/1945. Các công trình “Cơ sở khoa học QL” của tác giả Nguyễn Minh Đạo; “QLGD tiếp cận từ những mô hình” của tác giả Đặng Quốc Bảo; “ Quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành giáo dục” do PGS. Phạm Viết Vượng chủ biên… là những tác phẩm có giá trị.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên thường đi sâu vào lý luận công tác QLGD nói chung, còn ở phương diện QL cụ thể một môn học trong trường THPT trong đó có môn tiếng Trung thì chưa được đề cập nhiều. Trong những năm gần đây lý luận về QL các môn học trong trường THPT đã được quan tâm, nhất là trong các luận văn thạc sỹ về QLGD. Khi xây dựng các biện pháp QL hoạt động dạy học môn tiếng Trung ở trường THPT cần căn cứ vào các văn bản nghị quyết, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng như các văn bản hướng dẫn của Bộ giáo dục và Đào tạo, các văn bản quy định của địa phương đối với các trường THPT. Trong đó luật GD 2005 và điều lệ trường Trung học là những văn bản mang tính nguyên tắc mà người cán bộ QL phải tuân thủ nghiêm túc.
Ngoài ra còn các chủ trương về GD & ĐT được thể hiện trong 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết TW 2 về giáo dục; Kết luận Hội nghị TW 6 về GD - ĐT ; Chỉ thị 40-CT/TW; Quyết định số 09/2005 /QĐ-TT của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ QLGD…cũng rất quan trọng. Điều 7, mục 3 của Luật giáo dục (sửa đổi), 2005 quy định: “Ngoại ngữ được qui định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế.Việc tổ chức ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu quả”. Hiện nay, Ngoại ngữ, trong đó hầu hết là tiếng Trung, được dạy trong các trường phổ thông chuyên từ lớp 6 đến lớp 12. Ngoại ngữ đã trở thành một trong các môn thi tốt nghiệp THPT.
Trong văn bản Chuẩn chương trình GD phổ thông, môn tiếng Trung (Ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT, ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) đã xác định vị trí của môn tiếng Trung như sau: Tiếng Trung, với tư cách là môn ngoại ngữ, là môn văn hóa cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông, là bộ phận không thể thiếu của học vấn phổ thông. Môn tiếng Trung ở trường phổ thông góp phần phát triển tư duy (trước hết là tư duy ngôn ngữ) và hỗ trợ cho việc dạy học tiếng Việt.Với đặc trưng riêng, môn tiếng Trung góp phần đổi mới phư PP dạy học, lồng ghép và chuyển tải nội dung của nhiều môn học khác ở trường phổ thông. Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, môn tiếng Trung góp phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường phổ thông. Xu thế hội nhập đã đặt ra cho ngành GD đối với dạy học NN là đào tạo ra nguồn nhân lực tầm cao, có khả năng sử dụng được ngoại ngữ thành thạo trong công việc chuyên môn của mình.
Chính vì vậy, QL hoạt động dạy học môn tiếng Trung có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường. QL tốt hoạt động này sẽ giúp GV và HS có những bước đi đúng đắn trong từng khâu của quá trình dạy học nhằm đạt được các yêu cầu do mục tiêu giáo dục đề ra. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 1.
Quản lý, biện pháp quản lý 1. Khái niệm Quản lý QL là tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt mục đích đề ra. Sự tác động của QL luôn tự giác, phấn khởi đem hết khả năng trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân và cho cả xã hội. Các Mác đã nêu lên: bản chất của QL là nhằm thiết lập sự phốí hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các bộ phận riêng lẻ của nó, một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy.
Theo Harol Koontz thì: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà QL nhằm hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách QL là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [23, tr.Markx cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiệ những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [25, tr.Marx đã lột tả được bản chất QL là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người.
QL đã trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động QL là tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể QL (người quản lý) đến 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khách thể QL (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức ” [8, tr. Từ các định nghĩa trên chúng ta thấy mặc dù các tác giả có các quan niệm khác nhau về QL nhưng họ đều thống nhất QL luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng quản lý) gồm: Con người, trang thiết bị kỹ thuật, nguồn tài chính.
và mục đích hay mục tiêu chung của công tác QL do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thỏa thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Biện pháp quản lý Nghiên cứu về khoa học quản lý, tác giả Trần Quốc Thành nêu ra 4 biện pháp QL chính, đó là: Biện pháp thuyết phục: Là cách tác động của chủ thể QL vào đối tượng QL bằng lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà QL, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu này. Đây là biện pháp cơ bản để GD con người.
Biện pháp thuyết phục gắn với tất cả các biện pháp QL khác và phải được người QL sử dụng trước tiên vì nhận thức là bước đầu tiên trong hoạt động của con người. Biện pháp hành chính - tổ chức: Là cách tác động của chủ thể QL vào đối tượng QL trên cơ sở quan hệ quyền lực tổ chức, quyền hạn hành chính. Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật tổ chức, bởi lẽ bất cứ một hệ thống nào cũng có quan hệ tổ chức. Trong đó người ta sử dụng quyền uy và sự phục tùng trong bộ máy này.
Khi sử dụng biện pháp hành chính - tổ chức, chủ thể QL phải nắm chắc các văn bản pháp lý, biết rõ giới hạn, quyền hạn trách nhiệm. Các quy định phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, phải kiểm tra và nắm được thông tin phản hồi. Biện pháp kinh tế: Là cách tác động của chủ thể QL vào đối tượng QL thông qua lợi ích kinh tế. Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật kinh tế, thông qua quy luật này để tác động tới tâm lý của đối tượng.
Nội dung của biện pháp này là nhà quản lý đưa ra các nhiệm vụ, kế hoạch. tương ứng với các mức lợi ích kinh tế. Đối tượng bị quản lý có thể lựa chọn phương án thích hợp để vừa đạt được mục tiêu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của tập thể vừa đạt được lợi ích kinh tế của cá nhân. Khi sử dụng biện pháp này cần tránh dẫn đến chủ nghĩa thực dụng hay sự mất đoàn kết nếu thiếu công bằng.
Biện pháp tâm lý - giáo dục: Là cách tác động vào đối tượng QL thông qua tâm lý, tình cảm, tư tưởng con người. Cơ sở của biện pháp này dựa vào quy luật tâm lý con người và chức năng tâm lý của con người. Nội dung của biện pháp này là kích thích tinh thần tự giác, sự say mê của con người.