Mở đầu • Phần thứ hai nội dung nghiên cứu gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ vănở các trƣờng THCS. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ vănở các trƣờng THCS trên địa bàn thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trƣờng THCS trên địa bàn thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. • Phần kết luận và khuyến nghị • Danh mục và tài liệu tham khảo • Phụ lục 5 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝHOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Ở nước ngoài Thực tiễn và lý luận về DH và QLDH đƣợc hình thành và phát triển xã hội loài ngƣời. Dạy học là hoạt động xã hội xuất hiện từ những kinh nghiệmlúc con ngƣời có nhu cầu truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm của thế hệ trƣớc và quản lý ra đời tự sự phân công xã hội. QLDHlà một quá trình của xã đặc thù.
Tƣ tƣởng DH và QLHĐDH ngay từ thời cổ đại đã đƣợc thể hiện trong các quan niệm của các nhà triết học, nhà giáo dục học phƣơng Tây và phƣơng Đông dành sự quan tâm, nghiên cứu, có thể kể đến nhƣ: Nhà triết học Sakrates (469- 399 TCN), Platon (429-347 TCN), A. Popôp – Con-da-côp (429-347 TCN);Khổng Tử (551-479 TCN), Mạnh Tử (372-289 TCN),. Ở phƣơng Tây, quan niệm rằng giáo dục con ngƣời tìm thấy và khẳng định chính bản thân mình(Sakrates,469-399TCN), xác định chân lí trong quan niệm giáo dục của ông là có có PPDH hiệu quả giúp thế hệ tự tin, tự khẳng định mình; vai trò của giáo dục trong sự hình thành và phát triển con ngƣời.Konmenxki (1592-1670) đã phân tích các hiện tƣợng trong tự nhiên và hiện thực để đƣa ra các biện pháp dạy học buộc phải tìm tòi suy nghĩ để nắm đƣợc bản chất của sự việc hiện tƣợng.(1717-1778) chủ trƣơng giáo dục trẻ em một cách tự nhiên và ngƣời học sẽ tự khám phá tích lũy kiến thức thông qua các hoạt động của chính mình. Ở phƣơng Đông, coi trọng suy nghĩ tích cực của ngƣời học (Khổng Tử, 551-479 TCN), đã giúp học trò phát triển bằng cách khuyến khích sở trƣờng, đòi hỏi ngƣời học phải hình thành nề nếp, thói quen trong học tập tức là DH phải có PP dùng cách gợi mở, PP phải đi từ gần đến xa, từ cụ thể đến phức tạp.
Đầu thế kỷ XX nhiều nhà giáo dục tiêu biểu nhƣ John Dewey (1859), A.Macarenco (1888-1938) có quan điểm hƣớng đến sự tích cực hóa hoạt động nhận thức của ngƣời học.Makiguchi (Nhật Bản) đã nêu quá trình phát 6 triển của giáo dục tƣơng ứng với nó là sự thay đổi vai trò của ngƣời thầy trong quá trình giáo dục, dạy học. Các nhà nghiên cứu giáo dục Xô Viết trong những công trình nghiên cứu của mình đã cho rằng: "Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trƣờng phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ giáo viên" [28, tr.A Xukhomlinxki và Xvecxlerơ còn nhấn mạnh đến biện pháp dự giờ và phân tích bài giảng. Xvecxlerơ cho rằng việc dự giờ và phân tích bài giảng là đòn bẩy quan trọng nhất trong công tác QL quá trình giảng dạy của GV. Việc phân tích bài giảng mục đích là phân tích cho GV thấy và khắc phục các thiếu sót, đồng thời phát huy mặt mạnh nhằm nâng cao chất lƣợng bài giảng.
Thời đại ngày nay, trong công cuộc xu thế toàn cầu hóa cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0, sự bùng nổ về thông tin khoa học, những tƣ tƣởng trên vẫn còn nguyên giá trị đƣợc kế thừa và phát triển hơn nữa. Ở Việt Nam Bằng việc vận dụng sáng tạo Triết học Mác - Lênin và kế thừa tinh hoa của các tƣ tƣởng giáo dục tiên tiến phải nói đến tƣ tƣởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho nền giáo dục cách mạng Việt Nam những tƣ tƣởng có giá trị cao trong quá trình phát triển lý luận giáo dục và dạy học. Trong thƣ gửi cho HS nhân ngày khai trƣờng, Bác từng viết các em từ giờ trở đi bắt đầu nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, một nền giáo dục làm các em phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có. Đứng trƣớc nhiệm vụ đổi mới GD&ĐT nói chung và đổi mới nội dung, PPDH nói riêng, trong những năm 1995 - 1996, nhiều nhà nghiên cứu, trong đó có những nhà giáo dục học, tâm lí học đã đi sâu nghiên cứu vấn đề về đổi mới nội dung DH theo hƣớng hiện đại và gắn khoa học với thực tiễn sản xuất, đặt HS vào trung tâm HĐDH trong ngành Giáo dục đã xuất hiện mệnh đề “PP giáo dục lấy ngƣời học làm trung tâm” và đã có nhiều công trình nghiên cứu về PPDH tích cực này nhƣ các tác phẩm: “PP giáo dục tích cực lấy ngƣời học làm trung tâm”, “Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm” của tác giả Trần Bá Hoành.
“Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” của tác giả Nguyễn Kỳ; “Học và dạy cách học” của các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo; 7 “Những vấn đề cơ bản Giáo dục học hiện đại” của tác giả Thái Duy Tuyên;Các tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sĩ Hồ, Nguyễn Văn Lê, Hoàng Tâm Sơn, đi sâu vào những bình diện khác nhau của HĐDH đến việc giải quyết mối quan hệ giữa GV và nhà QL, những nội dung QL HĐDH của ngƣời hiệu trƣởng tất cả mặt trong hoạt động QLGD. Nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên), Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Quốc Chí, Nguyễn Sĩ Thu (2015)QL là một động từ chứ không phải là một danh từ, quản lý là khái niệm có tính tình huống cụ thể, QL là quá trình đòi hỏi sự chấp nhận, tích hợp và đồng hóa, quản lý đƣợc thể hiện trong hành vi của ngƣời QL giáo dục với các lĩnh vực khác đƣợc các tác giả nêu cụ thể: Mục tiêu giáo dục phẩm chất, năng lực; đánh giá nhân cách; sản phẩm là con ngƣời.[25] Trong môn Ngữ văn với những năm gân đây, với chủ chƣơng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục có đổi mới chƣơng trình sách giáo khoa, đổi mới đánh giá năng lực của học sinh, kết quả học tập của học sinh có nhiều công trình nghiên cứu, cụ thể nhƣ PGS.TS Đỗ Ngọc Thống (nguyên Phó Vụ trƣởng Vụ giáo dục trung học, Bộ GD&ĐT) đã đƣa ra quan niệm khoa học Năng lực và đánh giá năng lực, khái quát hai nhóm năng lực cơ bản của môn Ngữ văn, đó là Năng lựctiếp nhận và năng lực tạo lập văn bản. Tuy nhiên, theo chƣơng trình tổng thể 2018 đối với môn Ngữ văn chia làm hainăng lực: năng lực đặc thù và đánh giá năng lực chuyên biệt. Từ những công trình nghiên cứu trên, ta rút một điểm chung, đó là: Khẳng định vai trò quan trọng của đổi mới hoạt động giáo dục, đổi mới trong công tác QL nhằm phát huy năng lực của ngƣời học.
Những quan điểm đó phù hợp với chiến lƣợc về phát triển giáo dục của Đảng ta: "Đổi mới mạnh mẽ nội dung, PP giáo dục và quản lý Giáo dục và Đào tạo" là định hƣớng phát triển bền vững của giáo dục ở Việt Nam. Gần đây các công trình nghiên cứu đi sâu vào QL HĐDHmột bộ môn cụ thể về QLDH môn Ngữ văn ở các trƣờng THCS nhƣ một số luận văn: - Tác giả Phan Thị Bích Huệ (2015), QL HĐDH môn Ngữ văn ở các trƣờng THCS thành phố Uông Bí, Quảng Ninh. Tác giả Phan Thị Bích Huệ cho rằng QLDH môn Ngữ văn tập trung vào các hoạt động.Nhƣ tăng cƣờng quản lý việc thực hiện nội dung chƣơng trình đáp ứng mục tiêu môn học và nhiệm vụ từng năm học, thƣờng 8 xuyên chỉ đạo việc thực hiện đổi mới PPDH đối với giáo viên, phƣơng pháp học tập của học sinh, QLPTDH và tăng cƣờng ứng dụng PTDH hiện đại vào dạy học Ngữ văn, [19]. - Tác giả Đàm Thị Thu Hà (2000), QLHĐDH môn Ngữ văn tại các trƣờng THCS huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo hƣớng phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh.
Theo tác giả Đàm Thị Thu Hàđƣa ra biện pháp QL HĐDHmôn Ngữ văn phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh gồm QLhoạt động dạy vàQLhoạt động học tập của HS phát huy năng lực thẩm mĩ.[15] Tóm lại , các luận văn đã đề xuất quan điểm biện pháp quản lý khá toàn diện, phong phú, phù hợp với đặc điểm từng địa phƣơng, từng cơ sở giáo dục. Tuy nhiên đối với các trƣờng THCS trên địa bàn Thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông, đến thời điểm hiện tại, chƣa có công trình khoa học hay đề tài nào đề cập đến công tác QL HĐDH môn Ngữ Văn ở các trƣờng THCS. Vì vậy, tham khảo các đề tài của các tác giả nhƣ trên góp phần cho việc nghiên cứu đề tài này vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả HĐDH ở các trƣờng THCSthành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 1.
Khái niệm về quản lý QL là một hiện tƣợng xã hội, một phạm trù khách quan. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đƣa ra khái niệm về QL dƣới nhiều gốc độ khác nhau. Mác: “QL xã hội là sự tác động có ý thức của chủ thể QL đối với những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dựng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo hoạt động và phát triển tối ƣu theo mục đích đặt ra” [26]. Tác giả Trần kiểm khẳng định: “QL là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.[20] Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc nêu rõ “QL là sự tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ 9 chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức”.[9] Từ những khái niệm trên ta có thể hiểu: QL là những tác động có ý thức (có mục đích, có định hƣớng) của chủ thể đến khách thể QL.
QL có tác dụng định hƣớng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu và nổ lực của cá nhân, tổ chức vào mục tiêu chung.