phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục chữ viết tắt, Danh mục các bảng và hình, Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.
Lý luận chung về đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tƣ theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai mà kết quả này thƣờng phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra. Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động. Sự biểu hiện bằng tiền, tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tƣ.
Trong các kết quả đạt đƣợc có thể là tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực tăng thêm,.Những kết quả của đầu tƣ đem lại là sự tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đƣờng xá, của cải vật chất khác), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,. của ngƣời dân). Các kết quả đã đạt đƣợc của đầu tƣ đem lại góp phần tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. Theo nghĩa hẹp, đầu tƣ chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ hoặc xã hội kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc kết quả đó.
Theo Luật Đầu tƣ số 59/2005/QH11, khái niệm đầu tƣ đƣợc hiểu: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư” [21, tr1]. Nhƣ vậy, theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì đầu tƣ hay đầu tƣ công có thể hiểu chung là là việc bỏ vốn để mở rộng, cải tạo những cơ sở vật chất nhất định 9 nhằm đạt sự tăng trƣởng về số lƣợng, chất lƣợng hoặc duy trì, cải tiến chất lƣợng trong một thời gian xác định. Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất nằm trong giai đoạn thực hiện đầu tƣ với chức năng tạo ra các tài sản có tính chất sản xuất và không sản xuất thông qua các hình thức: xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục TSCĐ. Kết quả của các hoạt động xây dựng cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định.
Đầu tƣ xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tƣ, đó là việc bỏ vốn để thực hiện hoạt động xây dựng cơ bản: xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lƣợng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Do đó, Đầu tƣ xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế, là hoạt động chủ yếu tạo ra TSCĐ đƣa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đƣợc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Khái niệm ngân sách nhà nước, vốn đầu tư xây dựng cơ bản Thuật ngữ ngân sách nhà nƣớc xuất hiện khá sớm trong hoạt động tài chính của các quốc gia, tuy nhiên chƣa có một khái niệm đƣợc coi là chuẩn tắc. Tùy theo mục đích nghiên cứu mà ngƣời ta đƣa ra các nhận thức khác nhau về thuật ngữ “ngân sách nhà nƣớc”.
Theo giáo trình Lý thuyết tài chính của trƣờng Đại học tài chính kế toán Hà Nội (nay là Học viện Tài chính) do nhà xuất bản Tài chính ấn hành năm 2000: “Ngân sách nhà nƣớc đƣợc đặc trƣng bằng sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc nhằm thực hiện chức năng của nhà nƣớc trên cơ sở luật định. Nó phản ánh quan hệ kinh tế giữa nhà nƣớc và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nƣớc tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu” [4]. 10 Theo Luật Ngân sách nhà nƣớc năm 2015 định nghĩa: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [24, tr3]. Để quản lý ngân sách nhà nƣớc hiệu quả hơn, thực tế hơn, Nhà nƣớc đã phân cấp quản lý ngân sách; xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý ngân sách nhà nƣớc phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở các cấp, các ngành tự cân đối thu chi đúng quy định và phải báo cáo thƣờng xuyên về việc sử dụng ngân sách lên cấp trên. Các cấp chính quyền địa phƣơng đƣợc phân bổ sử dụng ngân sách lần lƣợt theo đơn vị hành chính nhƣ cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Ngân sách nhà nƣớc có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nƣớc; là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nƣớc. Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nƣớc sẽ cung cấp kinh phí đầu tƣ cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trƣờng và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Vốn đầu tƣ XDCB là toàn bộ những chi phí đã bỏ ra để đạt đƣợc mục đích đầu tƣ bao gồm chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tƣ, chi phí thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác đƣợc ghi trong tổng dự toán. Theo quy định tại Luật Đầu tƣ công số 49/2014/QH13: “Vốn nhà nƣớc là từ những nguồn sau (1) Vốn từ NSNN; (2) Vốn công trái quốc gia; (3) Vốn trái phiếu Chính phủ; (4) Vốn trái phiếu chính quyền địa phƣơng; (5) Vốn hỗ 11 trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ƣu đãi của các nhà tài trợ nƣớc ngoài; (6) Vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc; (7) Vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tƣ nhƣng chƣa đƣa vào cân đối ngân sách nhà nƣớc; (8) Các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phƣơng để đầu tƣ” [22, tr3]. Chi NSNN trong đầu tƣ XDCB trên địa bàn địa phƣơng là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tƣ tái sản xuất TSCĐ nhằm từng bƣớc tăng cƣờng, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ trên địa bàn địa phƣơng. Nguồn vốn chi NSNN cho đầu tƣ XDCB trên địa bàn địa phƣơng bao gồm: vốn hỗ trợ của TW, vốn địa phƣơng, nguồn từ các chƣơng trình dự án trên địa bàn địa phƣơng… 1.
Khái niệm, vai trò và đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 1. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc là quá trình đƣa ngân sách nhà nƣớc (toàn bộ hoặc một phần giá trị đầu tƣ) vào quá trình đầu tƣ xây dựng cơ bản nhằm tạo ra tài sản cố định, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh. Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước đối với phát triển kinh tế, xã hội Hoạt động đầu tƣ xây dựng cơ bản có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của các nƣớc trên thế giới và đặc biệt quan trọng trong thực hiện hiện chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội theo hƣớng công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam, nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất các tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, lao động và các nguồn lực khác trong xã hội. Đầu tƣ xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tƣ do đó có những vai trò chung của hoạt động đầu tƣ: tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh 12 tế, tác động chiến lƣợc phát triển kinh tế, tạo ra nền tảng vật chất cho sự phát triển khoa học kỹ thuật, ổn định an sinh xã hội.
Thứ nhất, Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khi tăng đầu tƣ xây dựng cơ bản thì cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành tăng, sẽ phát triển sức sản xuất vật chất và dịch vụ của các ngành. Nhƣ vậy, đầu tƣ xây dựng cơ bản đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển của ngành kinh tế, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nƣớc, tăng tích luỹ, đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của ngƣời lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế, xã hội. Đầu tƣ xây dựng cơ bản tác động đến sự phát triển của ngành, lãnh thổ, thành phần kinh tế.
Chính sách đầu tƣ định hƣớng mục tiêu phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế của toàn bộ nền kinh tế. Việc đầu tƣ cần phải có tầm nhìn dài hạn, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các lãnh thổ, các ngành; đồng thời, phải xây dựng kế hoạch trung hạn và ngắn hạn, để đảm bảo quá trình thực hiện có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực.