phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, có kết cấu bao gồm 3 phần: Phần 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý đầu tư công cấp huyện Phần 2. Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công của thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam giai đoạn 2021-2023 Phần 3. Các đề xuất và kiến nghị về công tác quản lý đầu tư công của thị xã Duy Tiên tỉnh Hà Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG CẤP HUYỆN 1.1 Các khái niệm cơ bản về đầu tư công và quản lý đầu tư công 1.1 Khái niệm liên quan tới đầu tư công Theo Luật đầu tư công số 39/2019/QH14 do Quốc hội ban hành ngày 13/06/2019, một số thuật ngữ liên quan tới đầu tư công được giải thích như sau: “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật này.” “Đối tượng đầu tư công gồm: <1> Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng KTXH; <2> Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; <3> Đầu tư và hỗ trợ hoạt động đầu tư cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích, phúc lợi xã hội; <4> Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo phương thức đối tác công tư; <5> Đầu tư phục vụ công tác lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch; <6> Cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi, phí quản lý; cấp vốn điều lệ cho các ngân hàng chính sách, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; hỗ trợ đầu tư cho các đối tượng chính sách khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. “Dự án đầu tư công là dự án đầu tư sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công.” “Hoạt động đầu tư công bao gồm lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư; lập, thẩm định, quyết định chương trình, dự án đầu tư công; lập, thẩm định, phê duyệt, giao, triển khai thực hiện kế hoạch, dự án đầu tư công; quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; nghiệm thu, bàn giao chương trình, quyết toán dự án đầu tư công; theo dõi và đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công.” “Vốn đầu tư công quy định tại Luật này bao gồm: vốn NSNN; vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật.” 7 “Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư công bao gồm Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND các cấp.” Như vậy, đầu tư công phải luôn gắn với chủ thể là Nhà nước, phục vụ chức năng chủ yếu của Nhà nước là cung cấp hàng hóa công cộng, thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện phúc lợi xã hội và hướng tới mục tiêu vì lợi ích chung của toàn xã hội. Nguồn lực và phương thức tổ chức thực hiện không chỉ bó hẹp trong phạm vi của khu vực nhà nước và chỉ do Nhà nước thực hiện. Nói cách khác, đầu tư công là hướng tới các mục tiêu công cộng, không vì mục đích lợi nhuận trên cơ sở tổng hợp các nguồn lực của xã hội.2 Quản lý đầu tư công “Quản lý đầu tư công là một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành những định hướng lớn trong chính sách đầu tư công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi, và đánh giá các dự án đầu tư cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của đầu tư công, qua đó đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển chung của nền kinh tế.” (OECD, 2010) “Quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình đầu tư của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong thực hiện đầu tư các dự án công; ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí NSNN; đảm bảo hoạt động đầu tư công đạt được tốt nhất mục tiêu phát triển KTXH với chi phí thấp nhất.” (Nguyễn Thụy Hải, 2014) Như vậy, quản lý đầu tư công là các cách thức, biện pháp, công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động vào hoạt động đầu tư công, từ khâu phân bổ nguồn lực, định hướng, quy hoạch, lập kế hoạch tới khâu triển khai thực hiện, thẩm định, kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư công để đạt được các mục tiêu KTXH đã đề ra trong từng giai đoạn.3 Quản lý đầu tư công cấp huyện Từ khái niệm và phạm vi của quản lý đầu tư công đề cập ở trên, cách thức phân cấp quản lý đầu tư công ở nước ta, có thể hiểu: Quản lý đầu tư công cấp huyện là 8 hoạt động quản lý việc sử dụng nguồn vốn của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH và các chương trình, dự án phục vụ phát triển KTXH của UBND các quận, huyện, thị xã.
Đối tượng quản lý đầu tư công cấp huyện là nguồn vốn ngân sách đầu tư cho các công trình trọng điểm và các lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng KTXH trên địa bàn huyện. Cơ quan chuyên môn quản lý đầu tư công của cấp huyện là Chính quyền cấp huyện và các phòng, ban chuyên môn có chức năng quản lý đầu tư công thuộc huyện. Về phạm vi quản lý, căn cứ kế hoạch đầu tư công hàng năm đã được HĐND cấp tỉnh phê duyệt và điều kiện cụ thể của địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thành phố quyết định giao kế hoạch vốn đầu tư công cho từng địa phương. Do đó, phạm vi của quản lý đầu tư công cấp huyện là quản lý việc sử dụng nguồn ngân sách được tỉnh, thành phố phê duyệt vào các hoạt động nhằm mục tiêu phát triển KTXH.2 Nội dung (lý luận) về quản lý đầu tư công 1.1 Mục tiêu và nguyên tắc quản lý đầu tư công - Mục tiêu quản lý đầu tư công Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư công là bảo đảm đạt được mục đích đầu tư, tức là lợi ích mong muốn của chủ đầu tư.
Các mục tiêu cụ thể bao gồm: + Mục tiêu về chất lượng: Các đầu ra của dự án đạt chất lượng dự kiến. + Mục tiêu về thời gian thực hiện: Tiến độ của dự án được đảm bảo. + Mục tiêu về chi phí: Đảm bảo hạn chế tối đa thất thoát và lãng phí. Tiết kiệm được nguồn lực của dự án bao gồm vật tư, nhân lực, tiền vốn… + Mục tiêu về an toàn lao động: Đảm bảo an toàn lao động cho đầu tư + Mục tiêu về vệ sinh môi trường: Ánh hưởng tốt của dự án tới môi trường + Mục tiêu về quản lý rủi ro: Hạn chế tối đa tác động các rủi ro từ môi trường + Mục tiêu về hiệu quả đem lại: Tức là lợi ích của các bên tham gia được đảm bảo hài hoà và đem lại lợi ích đầu tư cho xã hội.
- Nguyên tắc quản lý đầu tư công + Tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công. 9 + Phù hợp với chiến lược phát triển KTXH, kế hoạch phát triển KTXH 05 năm của quốc gia và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch. + Thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tư công. + Quản lý việc sử dụng vốn đầu tư công theo đúng quy định đối với từng nguồn vốn; bảo đảm đầu tư tập trung, đồng bộ, chất lượng, tiết kiệm, hiệu quả và khả năng cân đối nguồn lực; không để thất thoát, lãng phí.
+ Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công 1.2 Nội dung quản lý đầu tư công cấp huyện Căn cứ nội dung quản lý đầu tư công quy định tại Luật đầu tư công số 39/2019/QH14, đồng thời xét theo quy mô, tính chất của đầu tư công cấp huyện, nội dung quản lý đầu tư công cấp huyện có thể được xem xét dựa trên theo các điều kiện triển khai công tác quản lý (nhân lực, khung pháp lý) và các bước trong quy trình triển khai dự án đầu tư công như sau: <1> Quản lý nhân lực liên quan đến hoạt động đầu tư công <2> Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản QPPL về đầu tư công <3> Quản lý công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư công <4> Quản lý công tác lập, thẩm định và phê duyệt các dự án đầu tư công <5> Quản lý công tác đấu thầu dự án đầu tư công <6> Quản lý công tác kiểm tra, giám sát đầu tư công <7> Quản lý nghiệm thu, thanh quyết toán dự án đầu tư công <8> Quản lý vận hành dự án đầu tư công 1.3 Các phương pháp và công cụ quản lý đầu tư công - Các phương pháp quản lý đầu tư công + Phương pháp hành chính: Là phương pháp được sử dụng trong quản lý cả lĩnh vực xã hội và kinh tế của mọi nước. Đây là cách thức tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến dự án quản lý bằng những văn bản, chỉ thị, những quy định về tổ chức. Ưu điểm của phương pháp này là góp phần giải quyết trực tiếp và nhanh chóng những 10 vấn đề cụ thể, nhưng cũng dễ dẫn đến tình trạng quan liêu máy móc, bộ máy hành chính cồng kềnh và độc đoán. + Phương pháp kinh tế: Là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng các chính sách và đòn bẩy kinh tế như: tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt, giá cả, lợi nhuận, tín dụng, thuế.
Khác với phương pháp hành chính dựa vào mệnh lệnh, phương pháp kinh tế thông qua các chính sách và đòn bẩy kinh tế để hướng dẫn, kích thích, động viên và điều chỉnh các hành vi của những đối tượng tham gia quá trình thực hiện đầu tư theo một mục tiêu nhất định của nền KTXH.