CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan về đầu tư xây dựng cơ bản Luận văn thạc sĩ Kinh tế 1. Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản XDCB là một ngành sản xuất vật chất nằm trong giai đoạn thực hiện đầu tư có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định có tính chất sản xuất và không sản xuất cho các ngành kinh tế thông qua các hình thức: xây dựng mới, cải tạo mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các tài sản cố định. Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư phát triển, nằm trong giai đoạn thực hiện đầu tư.
Đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB (từ khảo sát quy hoạch đầu tư, thiết kế và sử dụng cho đến khi lắp đặt thiết bị hoàn thiện việc tạo ra cơ sở vật chất) nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Đối với các bộ, ngành Trung ương, đầu tư XDCB chủ yếu là xây dựng trụ sở, văn phòng làm việc, cơ sở đào tạo (nếu có), cùng với trang thiết bị vận hành phục vụ cho hoạt động của đơn vị. Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản Từ khái niệm trên, và thực tế hoạt động, đặc điểm của đầu tư XDCB của các Bộ, ngành Trung ương được khái quát như sau: - Đòi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài: Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi một số lượng vốn, lao động, vật tư lớn. Nguồn vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư.
Vì vậy 6 trong quá trình đầu tư chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chống lãng phí nguồn lực. - Thời gian dài với nhiều biến động: Luận văn thạc sĩ Kinh tế Thời kỳ đầu tư, thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài và chịu sự tác động 2 mặt của các yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội…Các thành quả của đầu tư xây dựng cơ bản có giá trị sử dụng lâu dài, có khi hàng trăm, hàng nghìn năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình nổi tiếng thế giới như: vườn treo Babylon ở Iraq, tượng nữ thần tự do ở Mỹ, kim tự tháp cổ Ai cập, nhà thờ La Mã ở Roma, vạn lý trường thành ở Trung Quốc, tháp Angcovat ở Campuchia… - Cố định: Các thành quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó đựơc tạo dựng, cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư. Vì vậy cần được bố trí hợp lý địa điểm xây dựng để đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phải phù hợp với kế hoạch, qui hoạch bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi, để khai thác lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời phải đảm bảo được sự phát triển cân đối của vùng lãnh thổ. - Liên quan đến nhiều ngành: Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản rất phức tạp, nó liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà còn ở nhiều địa phương.
Vì vậy khi tiến hành hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bên 7 cạnh đó phải qui định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư. Phân loại đầu tư xây dựng cơ bản Thứ nhất: Dựa theo tính chất tái sản xuất tài sản cố định, đầu tư Luận văn thạc sĩ Kinh tế XDCB được chia thành: - Đầu tư xây dựng công trình mới: Đây là khoản đầu tư để xây dựng mới các công trình mới, mua sắm tài sản cố định mới. đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng kéo dài. Đối với những dự án xây dựng công trình mới sử dụng vốn ngân sách nhà nước, phải xem xét đầu tư vào những công trình, dự án mang tính chất cấp bách, trọng điểm, tránh xảy ra tình trạng đầu tư phân tán dàn trải.
Đây là khoản đầu tư chủ yếu trong hoạt động đầu tư XDCB, - Đầu tư cải tạo, mở rộng, nâng cấp các công trình hiện có: Khoản chi này do thời gian sử dụng lâu dài nên các công trình xây dựng thường là đã xuống cấp, do thiên tai, địch hoạ gây ra, trong khi đó nhu cầu sử dụng lại không ngừng tăng lên (biên chế tuyển dụng tăng, nhu cầu đào tạo tăng…) đòi hỏi phải đầu tư để nâng cấp, mở rộng và cải tạo lại., thay thế tài sản đã hết niên hạn sử dụng, hiện đại hóa tài sản cố định. Hiện nay các khoản chi này vẫn giữ một vị trí quan trọng, đảm bảo tiết kiệm mà đáp ứng được một số nhu cầu đáng kể Thứ hai: Dựa vào cơ cấu của vốn đầu tư, đầu tư XDCB được phân thành: - Chi xây lắp: là các khoản chi để xây dựng, lắp đạt các thiết bị vào vị trí như trong thiết kế. Trong hoạt động xây dựng cơ bản của các Bộ, ngành Trung ương chủ yếu là phi sản xuất nên chi phí lắp đặt chiếm tỷ lệ ít, chỉ chủ yếu là chi phí về xây dựng. 8 - Chi cho máy móc thiết bị: Là khoản chi để mua sắm máy móc thiết bị phục vụ công tác chuyên môn hoặc cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Riêng ở các Bộ, ngành TW, khoản chi này nhìn chung luôn chiếm tỷ trọng nhỏ. - Chi cho XDCB khác: là các khoản chi có liên quan đến tất cả qúa trình xây dựng như việc kiểm tra, kiểm soát để làm luận chứng kinh tế kỹ thuật và các chi phí có liên quan đến việc chuẩn bị mặt bằng thi công, chi phí Luận văn thạc sĩ Kinh tế tháo dỡ vật kiến trúc, chi phí đền bù hoa màu đất đai di chuyển nhà cửa, chi phí cho BQLDA. khoản chi này chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng rất cần thiết. Thứ ba: Phân loại đầu tư XDCB theo nguồn vốn: - Hoạt động đầu tư XDCB từ các nguồn ngoài NSNN: là hoạt động đầu tư sử dụng các nguồn vốn ngoài NSNN như: vốn tín dụng đầu tư phát triển, vốn vay các ngân hàng thương mại, vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Nhà nước, vốn đầu tư của các khu vực dân doanh, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn viện trợ nước ngoài (ODA)… Tuy hoạt động đầu tư XDCB ngoài NSNN được sử dụng các nguồn vốn khác nhau về tính chất, về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng.
Song các hoạt động đầu tư có các đặc điểm chung: + Các hoạt động đầu tư này đều hướng vào mục tiêu kinh tế, có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Do vậy, các dự án thuộc loại hình vốn đầu tư này được xác định hiệu quả kinh tế là hàng đầu, tuy nhiên hiệu quả kinh tế cũng phải gắn liền với hiệu quả xã hội. + Để quản lý vốn đầu tư trên, thường sử dụng các công cụ gián tiếp là chủ yếu (quy hoạch, các đòn bẩy kinh tế như: thuế, lãi suất, các chính sách ưu đãi đầu tư…). Do đó các thủ tục hành chính cần được đơn giản đến mức tối đa để tạo môi trường khuyến khích đầu tư.
- Hoạt động đầu tư XDCB từ nguồn NSNN: là hoạt động đầu tư chỉ sử dụng vốn NSNN, hoặc chủ yếu bằng nguồn vốn NSNN. Nội dung và phạm vi sử dụng nguồn vốn này là: 9 + Xét trên phương diện tổng thể nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN được hình thành qua hai kênh: từ khoản tích lũy của NSNN (phần còn lại của tổng thu NSNN sau khi trừ chi thường xuyên, chi trả nợ, chi lập quỹ dự trữ tài chính…) và khoản đi vay: trong nước (tín phiếu, công trái, trái phiếu chính phủ…) và vay nước ngoài (thông qua các dự án từ nguồn ODA được đưa vào cân đối NSNN). Luận văn thạc sĩ Kinh tế + Trên phương diện phân cấp quản lý theo luật NSNN. Vốn đầu tư XDCB từ NSNN bao gồm: vốn đầu tư XDCB do trung ương quản lý và vốn đàu tư XDCB do địa phương quản lý.
Vốn đầu tư XDCB do trung ương quản lý là số vốn đầu tư từ ngân sách trung ương được cân đối cho các chương trình, dự án đầu tư của các bộ, ngành trung ương theo kế hoạch đầu tư XDCB hàng năm, nằm trong quy hoạch và kế hoạch được Quốc hội thông qua. Vốn đầu tư XDCB do địa phương quản lý bao gồm: vốn đầu tư được cân đối từ tổng chi ngân sách địa phương dành cho đầu tư phát triển; vốn được hỗ trợ, bổ sung từ nguồn vốn XDCB tập trung của ngân sách trung ương và vốn đầu tư XDCB từ nguồn để lại theo Nghị quyết của Quốc hội. + Về phạm vi sử dụng: dù được hình thành từ nguồn nào hoặc do cấp nào quản lý, vốn đầu tư XDCB từ NSNN chỉ đầu tư vào các dự án của Nhà nước; không có khả năng hoặc ít có khả năng trực tiếp thu hồi nhưng lại tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội chung trên phạm vi ngành, lãnh thổ và cả nền kinh tế. Thứ tư: Phân loại đầu tư XDCB theo chủ thể trực tiếp đầu tư - Đầu tư của nhà nước: thường đầu tư vào các ngành, lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian dài song tỷ suất lợi nhuận thấp tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút các nguồn vốn khác; xây dựng cơ sở hạ tầng nâng cao đời sống nhân dân.
10 - Đầu tư của tư nhân: thường được đầu tư vào các lĩnh vực thu lãi suất cao, thời gian thu hồi vốn tương đối ngắn và thường phục vụ trực tiếp nhu cầu cần thiết của thị trường. - Đầu tư hỗn hợp giữa nhà nước và tư nhân: nhà nước và tư nhân cùng thực hiện dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và cung cấp dịch vụ công. Luận văn thạc sĩ Kinh tế 1. Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản đối với kinh tế - xã hội Trong nền kinh tế quốc dân, đầu tư XDCB có vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội.