Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu về đào tạo nghề ở các trường cao đẳng 1. Nghiên cứu trên thế giới Những năm cuối thế kỷ XX và đầu những năm của thế kỷ XXI, trên thế giới xuất hiện phong trào canh tân giáo dục, đổi mới giáo dục với mục đích nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở mọi cấp học và bậc học. Nhiều quốc gia trên thế giới coi giáo dục và đào tạo là con đường, là chiếc chìa khóa thành công trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, là quốc sách được ưu tiên hàng đầu trên mỗi quốc gia.
John Dewey (1859) đưa ra một luận điểm khá quan trọng: Mục đích của giáo dục nhà trường là đảm bảo quá trình giáo dục liên tục bằng cách tổ chức các hoạt động tích cực của người học, xu hướng học tập từ cuộc sống và chủ động tạo dựng nên điều kiện sống chính là sản phẩm tốt nhất từ hoạt động giáo dục nhà trường. Trong “Lý thuyết về nền sư phạm” ông đã đề cập đến khái niệm “Giáo dục”, các thành tố căn bản của chương trình dạy học, phương pháp dạy học, vị trí của người giáo viên. Ông đã đưa ra các lý thuyết và nguyên tắc giáo dục: Giáo dục là cuộc sống, nhà trường là xã hội, lấy người học làm trung tâm. Đó là những quan điểm quản lý đào tạo khá cởi mở, hiện đại và tiến bộ cần được phát huy [21].
Tác giả Tyler (1949) [100] cho rằng: Chương trình đào tạo phải bao gồm 4 thành tố cơ bản của nó, gồm có: Mục tiêu đào tạo; nội dung đào tạo; phương pháp và qui trình đào tạo và cách đánh giá kết quả đào tạo. Như vậy, quan niệm về chương trình đào tạo không đơn giản là cách định nghĩa mà nó thể hiện rất rõ quan điểm về đào tạo. Chương trình đào tạo được hiểu là bản kế hoạch được trình bày một cách có hệ thống toàn bộ hoạt động đào tạo với thời gian xác định trong đó mô tả mục tiêu (chuẩn đầu ra), nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, cách thức đánh giá kết quả đào tạo; Theo nghiên cứu của Sindicatos Y.Ormación (1975) [60] thì đào tạo nghề là: Một là hoạt động giáo dục định hướng nhằm cung cấp các kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện một việc cụ thể của một nghề. Đồng thời, nó hoạt động như một hình thức bổ sung cho các loại hình đào tạo giáo dục của con người, không chỉ với tư cách là công nhân, mà còn với tư cách là công dân.
Hai là hoạt động gắn với các quá trình chuyển giao công nghệ, đổi mới và phát triển doanh nghiệp. Cách truyền tải các kiến thức và kỹ năng chuyển giao cho 14 công nhân, thông qua đó, các doanh nghiệp trang bị những kiến thức cơ bản là cơ sở xây dựng các qui trình công nghệ, phục vụ quá trình đổi mới công nghệ và phát triển doanh nghiệp; đào tạo nghề là một chiến lược trở thành công cụ cần thiết cho quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Ba là hoạt động đào tạo xuất phát từ thực tế nhu cầu nâng cao chất lượng lao động, với mục tiêu để tăng năng xuất lao động, tăng khả năng cạnh tranh. Ormación (1975) cũng cho rằng: Khái niệm về đào tạo nghề và ứng dụng thực tế của nó đã thay đổi trong suốt quá trình tiến triển của lịch sử.
Tuy nhiên, nếu chúng ta so sánh nó với giáo dục thường xuyên, mặc dù đã có sự thay đổi hình thức, đào tạo nghề vẫn duy trì một mối liên kết chặt chẽ với lao động. Khi thị trường lao động, công nghệ và cách tổ chức công việc (thay đổi mô hình tổ chức sản xuất), sản phẩm thay đổi thì đào tạo nghề phải thực hiện phương thức đào tạo cập nhật và bổ sung cả về lý thuyết và thực hành. Do đó, đào tạo nghề theo định hướng hiện nay không phải là để đào tạo cho các ứng viên của một vài công việc cụ thể; ngược lại, cố gắng nâng cao năng lực và khả năng rộng hơn, cho phép người lao động có thể hoạt động trong nhiều tình huống làm việc, ví dụ như có thể hoạt động trong một nghề; cụm nghề nghiệp và thị trường lao động nói chung. Trong quá khứ, việc đào tạo nghề thường được thực hiện trong một khoảng thời gian giới hạn trước khi bước vào làm nghề.
Ngày nay, việc đào tạo nghề trở thành một quá trình liên tục trong suốt cuộc đời của người lao động và được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, có thể đào tạo chính quy và không chính qui Tác giả Simon McGrath (2012) với nghiên cứu “Giáo dục và đào tạo nghề cho sự phát triển: Chính sách cần thiết cho lý thuyết” đã cho rằng, việc phát triển phải lấy con người làm trung tâm và điều này tác động đến hệ thống giáo dục và đào tạo nghề. Năm công cụ chính được sử dụng trên toàn cầu bao gồm: Cải cách cơ quan quản lý; khung chương trình đào tạo; hệ thống đảm bảo chất lượng; cơ chế tài trợ mới và đảm bảo tính tự chủ của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập. Bài viết đã đưa ra các chính sách phát triển lấy con người làm trung tâm trong đào tạo nghề [98]. Tổ chức Giáo dục-Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) là tổ chức quốc tế lớn nhất dành sự quan tâm, sâu sắc đến giáo dục, đào tạo, hiệu quả và chất lượng của giáo dục và đào tạo.
Các nghiên cứu, cẩm nang hướng dẫn, chương trình hợp tác, dự án phát triển của UNESCO khá nhiều, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung. Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống, chất lượng và hiệu quả của giáo dục và đào tạo, năm 2013, UNESCO xuất bản cuốn “UNESCO Handbook on 15 Education Policy Analysis and Programming” (Cẩm nang phân tích chính sách và kế hoạch hóa giáo dục). Theo UNESCO, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề dường như quá rộng lớn và phức tạp nếu muốn phân tích nó. Cẩm nang này của UNESCO đề xuất một phương pháp hệ thống và cấu trúc hóa nhằm hỗ trợ việc phân tích các chính sách giáo dục và đào tạo cũng như kế hoạch hóa lĩnh vực này để tăng cường khả năng tiếp cận, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý, giải quyết các vấn đề liên ngành, liên lĩnh vực đối với mọi cấp trình độ cũng như loại hình giáo dục, đào tạo của mỗi quốc gia.
Cung cấp khung lý thuyết cho việc phân tích chính sách, hoạch định kế hoạch, khuyến khích sự đối thoại chính sách giữa các cơ quan chính phủ với các đối tác phát triển; từ đó đưa ra các hướng dẫn từng bước phân tích chính sách và hoạch định chương trình giáo dục và đào tạo [101]. Từ các quan điểm qua một số nghiên cứu về đào tạo ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nói chung và các trường cao đẳng nghề nói riêng ở nước ngoài cho chúng ta những gợi ý quan trọng trong việc lựa chọn những kinh nghiệm góp phần định hình trong nghiên cứu về đào tạo của trường cao đẳng ở nước ta, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thị trường lao động. Nghiên cứu ở Việt nam Năm 2005, tác giả Nguyễn Hồng Minh thực hiện đề tài nghiên cứu cấp Bộ "Nghiên cứu xây dựng chương trình khung đào tạo cao đẳng nghề". Tác giả đã hệ thống hóa các lý luận như: Danh mục nghề đào tạo; chương trình đào tạo nghề; chương trình cao đẳng nghề; chương trình khung; cơ sở xây dựng chương trình khung cao đẳng nghề.
Tác giả còn phân tích kinh nghiệm xây dựng chương trình khung cao đẳng nghề của các nước như Nhật Bản, Thái Lan, Singapore. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra các phương pháp và nội dung xây dựng chương trình khung cao đẳng nghề và thử nghiệm áp dụng vào một nghề cụ thể. Trong đó, tác giả đã phân tích các phương pháp xây dựng như phương pháp chuyên gia, phương pháp điều tra, khảo sát, phương pháp phân tích nghề theo phương pháp DACUM; phương pháp phát triển nội dung theo phân tích chức năng. Căn cứ vào các phương pháp, tác giả đã đưa ra chương trình khung cao đẳng nghề bao gồm: Mục tiêu đào tạo và các mục tiêu thực hiện; khung thời gian đào tạo; nội dung, thời lượng đào tạo của các môn học/mô đun trong chương trình khung cao đẳng nghề; khối lượng kiến thức, kỹ năng của chương trình khung cao đẳng nghề; tỷ lệ kiến thức lý thuyết và thực hành kết hợp trong chương trình khung cao đẳng nghề; các hoạt động giáo dục khác trong chương trình; hướng dẫn sử dụng, tổ chức xây dựng và thực hiện [43].
16 Tác giả Đoàn Đức Tiến "Nghiên cứu chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật trong công nghiệp điện lực Việt Nam" [60] đã tập trung nghiên cứu về chất lượng của những người lao động trong ngành điện lực ở Việt Nam. Từ lý luận chung về chất lượng đào tạo, luận án đã đưa ra quan điểm về chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật công nghiệp điện lực và các tiêu chí phản ánh chất lượng công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu ngành công nghiệp điện lực, thể hiện trên các mặt sau: (a) Qua đào tạo chuẩn từ trường đào tạo nghề công nghiệp điện lực, có trình độ kiến thức chuyên môn, kỹ năng tay nghề đạt chuẩn bậc thợ; (b) Tác phong công nghiệp; tuyệt đối chấp hành kỷ luật lao động, quy trình, qui phạm nghiêm ngặt của ngành công nghiệp điện lực; (c) Có sức khoẻ tốt đáp ứng yêu cầu môi trường lao động đặc thù ngành điện lực; (d) Thấu hiểu, thực thi truyền thống và văn hóa doanh nghiệp, đạo đức, lối sống lành mạnh; (e) Có khả năng thích ứng, làm việc độc lập và phối hợp đồng đội trong lao động. Luận án đã giới thiệu một số mô hình và lựa chọn mô hình Donald L.Kirkpatrick để áp dụng xây dựng mô hình đánh giá chất lượng chương trình đào tạo công nghiệp điện lực là đánh giá chu trình đào tạo từ chất lượng đầu vào đến kết quả đầu ra và hiệu quả sau đào tạo. Tác giả đã đưa ra các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật công nghiệp điện lực gồm: Mục tiêu, chiến lược đào tạo gắn với mục tiêu phát triển doanh nghiệp; Mô hình quản lý và đào tạo phát triển phù hợp, đồng bộ; Thể chế hóa công tác đào tạo công nhân kỹ thuật; Chuẩn hóa đội ngũ lãnh đạo, quản lý, giáo viên; Cơ chế đầu tư, thu hút đầu tư tài chính.