Chương 1: Cơ sở lý luận quản nhà nước về đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số ở tỉnh Kiên Giang. Chương 3: Mục tiêu và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào nghề cho người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. 7 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.
Một số vấn đề chung về đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu số 1.1 Khái lƣợc về dân tộc thiểu số 1. Khái niệm về ngƣời dân tộc thiểu số Dân tộc là khái niệm đa nghĩa, giống như khái niệm văn hóa và ở những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội thì người ta có những định nghĩa, quan niệm khác nhau về dân tộc, cụ thể: - Dân tộc là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong đời sống xã hội có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý đoàn kết dân tộc. - Dân tộc được hiểu là một quốc gia, một cộng đồng ổn định hình thành người dân của một nước, một quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau trong truyền thống nghĩa vụ và quyền lợi. - Dân tộc thiểu số được hiểu là những người thiểu số sống trong một quốc gia.
- Người dân tộc thiểu số là những người có những sự khác biệt về một phương diện nào đó với cộng đồng người chung trong xã hội. Họ có thể khác biệt với người đa số về phương diện ngôn ngữ và văn hoá. Khác biệt về nhận thức và tôn giáo, về hoàn cảnh kinh tế, điều kiện sống và thu nhập v.và đi kèm theo đó là sự khác biệt về phương thức ứng xử của cộng đồng đối với chính họ. - Người dân tộc thiểu số là những người làm cho người ta dễ nhận thấy sự khác biệt so với cộng đồng, nghĩa là họ mang những nét mà có thể khi nhìn 8 Luan van vào cũng như giao tiếp với họ, người ta có thể nhận thấy ngay sự phân biệt so với những thành viên khác trong cộng đồng.
Đặc điểm ngƣời dân tộc thiểu số - Người dân tộc thiểu số ( DTTS ) có truyền thống đoàn kết; có nền văn hóa cực kỳ đặc sắc và hấp dẫn; nhận thức và năng lực tự vươn lên thoát nghèo của người dân tộc thiểu số còn hạn chế, một số có tính tự ti mặc cảm, một số khác còn trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước; tập quán sản xuất mang tính tự cung tự cấp, phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên; đông con. - Người DTTS chủ yếu sống ở vùng nông thôn, lao động có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn rỗi. Điều này do lao động người dân tộc thiểu số sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên chúng tôi đưa ra một số đặc điểm ảnh hưởng đến nhu cầu trong từng thời kỳ; đời sống sản xuất và thu nhập của lao động nông nghiệp. - Do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên tâm lý hay thói quen làm việc một cách không liên tục, thiếu sáng tạo của lao động người DTTS.
- Lao động người DTTS ở nước ta vẫn còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động. - Lao động người DTTS có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất khác nhau. Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tham gia bởi nhiều người ở nhiều độ tuổi khác nhau trong đó có cả những người ở ngoài độ tuổi lao động. - Thu nhập của người DTTS còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao, đặc biệt là tại vùng ven biển, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
9 Luan van - Trình độ lao động của người DTTS thấp, khả năng tổ chức sản xuất kém, đa số người DTTS sống bằng nghề nông nghiệp, làm thuê, làm mướn, thực tế cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động trong các ngành kinh tế khác. - Đa số người DTTS về ý thức học tập còn kém; lười biếng học tập, không có ý thức vươn lên; khả năng tiếp thu chậm; chưa hình thành thái độ, tư tưởng học tập đúng đắn; trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật còn thấp, ý thức tổ chức kỷ luật, kỷ cương và tinh thần hợp tác trong sản xuất chưa tốt, khả năng tư duy chủ động, sáng tạo trong công việc chưa cao. Khái niệm đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu số 1. Khái niệm về đào tạo nghề Đào tạo là tiến trình với nổ lực cung cấp cho người lao động những thông tin, kỹ năng và sự thấu hiểu về tổ chức cũng như mục tiêu.
Đào tạo là một quá trình học tập nghiệp vụ và kinh nghiệm tại môi trường làm việc để tìm kiếm sự thay đổi về chất tương đối lâu dài của một cá nhân, giúp cá nhân có thêm năng lực thực hiện tốt công việc của mình. Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng xuất và hiệu quả. Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn. Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định.
Hay nói cách khác đó là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những 10 Luan van kiến thức và kỹ năng cần thiết để người lao động có thể thực hiện một công việc nào đó trong tương lai. Đào tạo nghề là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó sau một thời gian nhất định người học có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực mới. Luật dạy nghề năm 2006 định nghĩa: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”. Có thể thấy, về cơ bản khái niệm đào tạo nghề và dạy nghề không có sự khác biệt nhiều về nội dung.
Đào tạo nghề phục vụ cho mục tiêu kinh tế - xã hội, trước hết là phương hướng phân công lao động mới, tạo cơ hội cho mọi người đều được học tập nghề nghiệp để dễ dàng tìm kiếm việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn. Khái niệm đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu số Tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề. Đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số (DTTS) là tạo ra lực lượng lao động có trình độ, thành thạo chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật sản xuất, đáp 11 Luan van ứng nhu cầu của thị trường lao động, nhằm giải quyết tốt nhu cầu việc làm, tự tạo việc làm cho người DTTS, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người DTTS.
Đặc điểm đào tạo nghề cho ngƣời dân tộc thiểu số Từ đặc điểm của lao động người dân tộc thiểu số kết hợp với những đặc điểm của hoạt động đào tạo nghề nói chung chúng tôi xin đưa ra đặc điểm của hoạt động đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số như sau: * Mục tiêu đào tạo: Đào tạo lao động người DTTS tạo ra lực lượng lao động có trình độ, thành thạo chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, nhằm giải quyết tốt nhu cầu việc làm, tự tạo việc làm của người lao động, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống. * Chương trình đào tạo: - Đào tạo kiến thức phổ thông (Giáo dục phổ thông). Đào tạo chương trình phổ thông hoặc bổ túc văn hóa tại các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung tâm hướng nghiệp dạy nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên, trường Nội trú dân tộc, kết hợp đào tạo kỹ năng sống. - Đào tạo kiến thức chuyên nghiệp (Giáo dục chuyên nghiệp), bao gồm đào tạo chuyên môn (đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp) và đào tạo nghề (đào tạo kỹ thuật, nghiệp vụ, phổ cập nghề cho người lao động).
* Về nguồn lực: Ngân sách Nhà nước bố trí cho dạy nghề nói chung và dạy nghề cho lao động người DTTS nói riêng chưa tương xứng với nhu cầu học nghề của người lao động cũng như yêu cầu tăng quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề của các cơ sở đào tạo; Mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc số lượng cơ sở dạy nghề rất ít, quy mô dạy nghề nhỏ và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu. 12 Luan van * Về đối tượng: bao gồm + Lao động người DTTS có trình độ học vấn, sức khỏe và phù hợp với nghề cần học trong đó ưu tiên cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác.