Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại trung tâm dạy nghề huyện Yên phong, tỉnh Bắc Ninh. Chương 3: Biện pháp quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại trung tâm dạy nghề huyện Yên Phong. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Một số mô hình đào tạo nghề trên thế giới 1. Giáo dục dạy nghề ở CHLB Đức Sự phát triển của mỗi quốc gia đều phụ thuộc rất nhiều vào phát triển nguồn nhân lực, do vậy chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Cộng hòa liên bang (CHLB) Đức là một trong những quốc gia đã tạo đƣợc sự phát triển kinh tế - xã hội cao nhờ làm tốt chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực.
Trong đó mô hình đào tạo kép đƣợc coi là mô hình đào tạo có hiệu quả, phần nào cung cấp một số kinh nghiệm cho chúng ta tham khảo. Ở CHLB Đức, hệ thống đào tạo nghề là sự kết hợp giữa việc học trong một môi trƣờng có sự gần gũi với thực tế sản xuất của công ty và một có sở có năng lực chuyên môn về sƣ phạm dạy nghề của các trƣờng nghề. Theo đó, các công ty tập trung vào việc cung cấp các kiến thức kỹ năng thực tế, đặc biệt là kiến thức và kỹ năng phù hợp với công nghệ sản xuất của công ty; còn nhà trƣờng cung cấp khối kiến thức về lý thuyết cơ bản nhiều hơn. Do phát triển trên hai nền tảng kết hợp nhƣ vậy, nên hệ thống đào tạo nghề này còn gọi là hệ thống đào tạo nghề kép.
Bộ luật đào tạo nghề năm 1969 áp dụng ở CHLB Đức đƣợc coi là nền tảng cơ bản của sự phát triển hệ thống đào tạo nghề kép. Bộ luật này đã đƣa ra các điều lệ chi tiết và tích cực, nhấn mạnh trách nhiệm của xã hội đối với việc đào tạo nghề. Đồng thời bảo đảm cho các nhóm xã hội quan tâm đến đào tạo nghề, chủ yếu giới chủ sử dụng lao động va ngƣời lao động, có ảnh hƣởng mang tính chất quyết định đến hệ thống đào tạo nghề và khả năng tổ chức đào tạo của đất nƣớc. Ngoài ra, Bộ luật này còn là cơ sở pháp lý cho hệ thống đào tạo kép thành hệ thống tiêu chuẩn chất lƣợng nghề chủ chốt ở CHLB Đức.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Mô hình giáo dục tại Nhật Bản Trong những năm gần đây, những thành tựu rực rỡ về công nghiệp và phát triển kinh tế của Nhật Bản đã gây đƣợc nhiều sự chú ý trên thế giới. Góp phần vào sự thành công đó có sự đóng góp không nhỏ của hệ thống giáo dục, đã đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao đáp ứng đƣợc nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội Nhật Bản. Mô hình đƣợc áp dụng ở Nhật Bản là mô hình có mối quan hệ rất khăng khít giữa các vấn đề đào tạo kỹ thuật ở trƣờng cấp 2 với các môn kỹ thuật và đào tạo kỹ năng ở trƣờng trung học phổ thông, tiếp đến là liên thông Cao đẳng chuyên nghiệp sau khi tốt nghiệp ở cấp phổ thông.
Các loại hình trƣờng kỹ thuật của Nhật Bản đƣợc chia thành các loại nhƣ sau: - Trung học Kỹ thuật hay Trung học Chuyên nghiệp: Là loại đào tạo trong 3 năm, cho các em tốt nghiệp THCS, loại hình này kết hợp giữa giáo dục phổ cập và dạy nghề. - Cao đẳng kỹ thuật: Là loại đào tạo 5 năm, trong đó 3 năm của Trung học kỹ thuật rồi liên thông 2 năm cao đẳng. - Trường đào tạo chuyên nhành như: Y tế cộng đồng, y tá, dƣợc tá, chăm sóc ngƣời già. có thời gian đào tạo từ 2 đến 3 năm.
- Trường chuyên tu (tư nhân): là những cơ sở dạy nghề cụ thể nhƣ Hớt tóc, Cắm hoa, dạy tiếng nƣớc ngoài, thƣ đạo, văn hóa đời sống, đầu bếp. thƣờng là 1 đến 2 năm. - Trung tâm huấn luyện nghề công lập: Là cơ sở đào tạo nghề mới cho những ngƣời muốn đổi nghề, về hƣu. không giới hạn tuổi tác để giải quyết tình trạng thất nghiệp.
Đối với phát triển kinh tế các vùng nông thôn, Nhật Bản cũng rất thành công khi triển khai mô hình: “Mỗi làng một sản phẩm”. Phong trào “mỗi làng một sản phẩm”ở tỉnh Oita của Nhật bản đã thực sự thu hút đƣợc sự quan tâm và học hỏi ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia, Indonesia. Việt Nam cũng học hỏi và triển khai nhƣng ở quy mô thí điểm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Oita là một tỉnh nằm phía tây nam Nhật Bản, Oita cách thủ đô Tokyo khoảng 500km.
Cuối những năm 70, ngài Morihiko Hiramatsu đƣợc bổ nhiệm là ngƣời đứng đầu Oita, ông đã đề xuất một loạt sáng kiến để phát triển kinh tế Oita, trong đó có phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”. Có 3 nguyên tắc để phát triển phong trào, đó là: Thứ nhất: Hành động địa phƣơng nhƣng suy nghĩ toàn cầu; Thứ hai: Tự tin và sáng tạo; Thứ ba: Phát triển nguồn nhân lực. Mỗi địa phƣơng tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trƣng của địa phƣơng để phát triển. Có thể là sản phẩm nhƣ Nấm Shitake; Sản phẩm từ sữa bò, hàng gỗ mỹ nghệ ở thị trấn YuJuincam; Cá khô làng Yonouzu; Chè, măng tƣơi ở làng Natkatsu.
Trong 20 năm kể từ năm 1979 - 1999, phong trào mỗi làng một sản phẩm đã tạo ra đƣợc 329 sản phẩm với tổng doanh thu là 141 tỷ yên. Thiết nghĩ, những mô hình và kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc giáo dục đào tạo một tầng lớp công nhân có kỹ năng thích ứng đƣợc với tốc độ phát triển cao của Nhật nhƣ đã nêu trên, hi vọng sẽ đem lại một cách nhìn mới cho nền giáo dục đào tạo của nƣớc ta ở giai đoạn hội nhập và cạnh tranh gay gắt. Một thời kỳ mà nhu cầu lao động có kỹ năng và kỹ thuật cao đang trở thành một đòi hỏi bức thiết, mang tính sống còn đối với một nƣớc đang trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nƣớc. Đào tạo nghề ở Việt Nam Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỳ XX, thực dân Pháp cho xây dựng một số trƣờng dạy nghề nhƣ: trƣờng Kỹ nghệ thực hành Hà Nội (1898), trƣờng Kỹ nghệ thực hành Huế (1899), trƣờng Cơ khí Á Châu Sài Gòn (1898) (nay là trƣờng kỹ thuật Cao Thắng) và trƣờng kỹ nghệ thực hành Hải Phòng (1913).
Trong giai đoạn đó nhiều cơ sở dạy nghề đƣợc thành lập với nhiều loại hình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ khác nhau… Bƣớc đầu đáp ứng nhu cầu đào tạo và cung ứng lao động qua đào tạo tại các nhà máy, xí nghiệp thời bấy giờ. Từ năm 1954 đến năm 1975, đất nƣớc tạm chia làm hai miền Nam - Bắc. Miền Bắc bƣớc vào thời kỳ xây dựng CNXH, miền Nam bị thống trị bởi chế độ Mỹ - Ngụy. Trong bối cảnh lịch sử đó, tại miền Bắc ĐTN đã phát triển nhanh, đặc biệt là khi đƣợc hỗ trợ có hiệu quả của các nƣớc XHCN, nhất là Liên Xô cũ.
Ngày 09-10-1969 Chính Phủ đã ban hành Nghị quyết số: 200/CP về việc thành lập Tổng cục đào tạo công nhân kỹ thuật, có thể coi đây là mốc lịch sử đánh dấu sự phát triển ĐTN theo hƣớng chính quy, tập trung. Ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975, ĐTN cũng trải qua nhiều biến động và xuất hiện sự du nhập tƣ bản vào các xí nghiệp ở các thành phố, các khu công nghiệp nhƣ Biên Hòa, Sài Gòn - Chợ lớn - Gia Định… đòi hỏi một lực lƣợng lớn LĐ kỹ thuật phục vụ cho bộ máy chiến tranh và đô thị hóa. Giải phóng miền Nam 30/4/1975 đã thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, đƣa đất nƣớc tiến lên nền sản xuất lớn XHCN. Giai đoạn này, ĐTN phát triển mạnh, góp phần xây dựng CNXH, nhƣng vẫn chịu ảnh hƣởng của nền kinh tế với cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp.
Tháng 02-1987 Tổng cục dạy nghề sáp nhập vào Bộ Đại học - Trung học chuyên nghiệp thành Bộ Đại học - Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, theo đó chỉ còn Vụ Dạy nghề và Vụ GV. Năm 1990 tiếp tục sáp nhập Bộ Đại học - Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề với Bộ Giáo dục thành Bộ GD-ĐT, theo đó Vụ ĐTN sáp nhập với Vụ Trung học chuyên nghiệp thành Vụ trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Đến cuối năm học 1997-1998 toàn quốc chỉ còn 151 trƣờng dạy nghề, 150 trung tâm dạy nghề đào tạo hệ dài hạn. Ngày 23-5-1998, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số: 33/1998/NĐ-CP về việc tái thành lập Tổng cục dạy nghề (trực thuộc Bộ LĐ-TBXH).
Từ đó đến nay hệ thống ĐTN không ngừng phát triển về quy mô, số lƣợng trƣờng lớp, HS. Ngày 29-11-2006 tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua Luật dạy nghề có hiệu lực từ ngày 01-7- Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 2007, theo đó hệ thống dạy nghề đào tạo theo ba cấp trình độ: sơ cấp nghề, TCN và Cao đẳng nghề. Để thực hiện nhiệm vụ dạy nghề hệ sơ cấp, chính phủ đã phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Từ đó hàng loạt các trung tâm dạy nghề cấp huyện và các cơ sở dạy nghề ngoài công lập đƣợc thành lập.
Đến nay số lƣợng các trung tâm dạy nghề trên toàn quốc rất nhiều và đang đƣợc sát nhập với trung tâm hƣớng nghiệp dạy nghề để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ đƣợc giao. Sự biến động về quản lý Nhà nƣớc trong lĩnh vực ĐTN đƣợc khái quát theo sơ đồ 1.1 sau: 1951 1952 1963 1969 Vụ GDCN Vụ Biên tập Vụ đào tạo Tổng cục Bộ GD Chính trị - CNKT Đào tạo CN CN Bộ LĐ Bộ LĐ 1998 1992 1987 1978 Tổng cục dạy Vụ THCN- Vụ ĐTN-Bộ Tổng cục nghề Bộ LĐ- DN Bộ DH- THCN dạy nghề TBXH GDĐT và DN Sơ đồ 1.