Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan những công trình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước và trong nước có liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình nghiên cứu về đào tạo trong trường đại học theo chuẩn đầu ra * Những công trình nghiên cứu của các tác giả ở nước ngoài Theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về các chính sách GDĐH “Giáo dục đại học ngày càng trở nên quan trọng trong các chương trình nghị sự quốc gia và đã trải qua nhiều sự thay đổi và cải cách sâu sắc trên toàn thế giới trong những thập kỷ qua” [84, tr. (2000) với bài viết “Outcomes-based education: Principles and possibilities” (Giáo dục dựa trên kết quả: Các nguyên tắc và khả năng) [78], cho rằng chất lượng của một hệ thống giáo dục có thể được đánh giá từ ít nhất ba khía cạnh: các yếu tố đầu vào của hệ thống, những gì xảy ra bên trong trong hệ thống và các kết quả đầu ra từ hệ thống.
Những ai quan tâm đến yếu tố đầu vào sẽ tập trung chủ yếu vào tài chính, nguồn lực, cơ sở hạ tầng, v.v… làm cơ sở cho các đánh giá của họ về chất lượng hoặc giá trị của hệ thống. Những ai quan tâm đến những gì xảy ra bên trong hệ thống sẽ tập trung chủ yếu vào các quá trình được sử dụng để tổ chức, kiểm soát và cung cấp sự giáo dục và đào tạo. Những ai quan tâm đến kết quả sẽ tập trung sự chú ý của họ chủ yếu vào các sản phẩm hoặc kết quả của quá trình đào tạo. Trong hệ thống OBE, có ba bước chính trong việc lập kế hoạch giảng dạy: quyết định về những kết quả mà người học phải đạt được, quyết định cách hỗ trợ để người học đạt được những kết quả đó (tức là quyết định về nội dung và chiến lược giảng dạy), và quyết định cách xác định khi nào người học đã đạt được các kết quả (tức là quyết định các thủ tục đánh giá và báo cáo).ra TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat (LUAN.ra 15 Đối với hầu hết giáo viên, những quyết định này sẽ được đưa ra từ quan điểm của họ với tư cách là một chuyên gia bộ môn.
Tuy nhiên, nếu người học muốn đạt được những kết quả rộng hơn – chẳng hạn như Năng lực chính – thì các chương trình học tập sẽ phải được tổ chức theo cách tích hợp dựa trên các yếu tố của tất cả các lĩnh vực học tập. (2008), trong bài báo “Learning Outcomes Current Developments in Europe: Update on the Issues and Applications of Learning Outcomes Associated with the Bologna Process” (Những sự phát triển hiện tại về CĐR ở Châu Âu: Cập nhật về các vấn đề và ứng dụng của CĐR liên quan đến quá trình Bologna), đã chỉ ra rằng: Các quốc gia châu Âu ngày càng đề cập đến CĐR khi thiết lập các mục tiêu tổng thể cho hệ thống GD&ĐT của họ cũng như khi xác định và mô tả các trình độ. Có một bước chuyển mạnh mẽ từ việc tập trung vào các yếu tố đầu vào như thời lượng, địa điểm và nội dung sư phạm làm nền tảng cho trình độ chuyên môn, hướng tới những gì người học biết và có thể thực sự làm được khi kết thúc quá trình học [64, tr. Tác giả Heather Fry và cộng sự (2009) với quyển “A Handbook for Teaching and Learning in Higher Education - Enhancing Academic Practice” (Sổ tay Dạy và Học trong giáo dục đại học - Tăng cường thực hành học thuật) [75].
Quyển sổ tay này tập trung vào việc phát triển các kỹ năng học thuật chuyên nghiệp cho việc giảng dạy.1], cho rằng ba phần tư CSĐT ở Hoa Kỳ đã thiết lập CĐR cho tất cả sinh viên của họ. Hầu hết các trường đang sử dụng kết hợp việc đánh giá cấp cơ sở và cấp chương trình. Các yêu cầu ĐBCL dưới hình thức công nhận khu vực và chuyên ngành, cùng với cam kết cải tiến thể chế là những động lực chính của việc đánh giá. Loris (2010) đề cập đến một tầm (LUAN.ra TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat (LUAN.ra 16 nhìn mới cho việc học đại học vào đầu thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21 trong bối cảnh Hoa Kỳ, và mô tả sáng kiến Giáo dục Khai phóng và Lời hứa của Hoa Kỳ do Hiệp hội các trường đại học và cao đẳng Hoa Kỳ đưa ra để phác thảo các CĐR thiết yếu mà sinh viên đại học đương đại cần phải nắm vững trong cả giáo dục đại cương và giáo dục chuyên ngành [80, tr.
(2011), trong nghiên cứu “Changing Engineering Curriculum in the Globalised World” (Sự thay đổi chương trình giảng dạy kỹ thuật trong thế giới toàn cầu hóa), đã chỉ ra rằng: Dưới tác động của toàn cầu hóa và thời đại thông tin, có một sự thay đổi mô hình xảy ra trong CTĐT kỹ thuật và cấu trúc học thuật. Ngoài việc tạo ra các chương trình mới cho các lĩnh vực kỹ thuật mới nổi, cách tiếp cận và định hướng cũng đã được chuyển đổi từ giáo dục dựa trên mục tiêu/đầu vào sang giáo dục dựa trên kết quả/đầu ra. Các tiêu chí cho thế hệ mới của sinh viên tốt nghiệp kỹ thuật có chất lượng cũng đã được mở rộng hơn nhiều [69, tr. Tác giả Tam, Maureen (2014), trong bài báo “Outcomes-based approach to quality assessment and curriculum improvement in higher education” (Cách tiếp cận dựa trên kết quả để đánh giá chất lượng và cải tiến chương trình giảng dạy trong giáo dục đại học) đã chỉ ra rằng: Xu hướng quốc tế trong GDĐH cho thấy có sự chuyển hướng rõ rệt từ mô hình lấy giáo viên làm trung tâm (teacher-centred model) – nhấn mạnh những gì được trình bày, hướng tới mô hình dựa trên việc học (learning-based model) – tập trung vào những gì sinh viên biết và thực sự có thể làm.
Kết quả này đã chỉ ra một cách khéo léo rằng, sự thịnh hành của các cách tiếp cận dựa trên kết quả/đầu ra (outcomes-based approaches) trong GDĐH trên thực tế bắt nguồn từ cái được gọi là “Phong trào đánh giá” (assessment movement) bắt đầu vào giữa những năm 1980 ở Hoa Kỳ với lời kêu gọi của Chính phủ để kiểm tra hiệu quả của (LUAN.ra TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat (LUAN.ra 17 các quỹ đầu tư vào các cơ sở GDĐH công bằng cách đánh giá xem sinh viên tốt nghiệp học được bao nhiêu cho đến thời điểm tốt nghiệp [87, tr. Quyển Sổ tay này dành cho các cá nhân và tổ chức tham gia vào việc xác định và viết các CĐR trong GD&ĐT. Nó cung cấp các ví dụ cụ thể về việc sử dụng CĐR và cung cấp một cái nhìn tổng quan về hướng dẫn hiện có và tài liệu nghiên cứu hỗ trợ việc định nghĩa và viết CĐR. và cộng sự (2018), trong nghiên cứu “Importance of Outcome Based Education (OBE) to Advance Educational Quality and enhance Global Mobility” (Tầm quan trọng của giáo dục dựa trên kết quả (OBE) đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục và nâng cao tính di động toàn cầu) đã chỉ ra rằng: Trong thời đại toàn cầu hóa, hệ thống giáo dục truyền thống đang mất dần tính phù hợp.
Trong thế giới ngày nay, mọi thứ thay đổi rất nhanh chóng và liên tục. Cần có nhiều kỹ năng hơn để làm việc với công nghệ phát triển rất nhanh. Các cơ sở giáo dục nên đào tạo ra sinh viên tốt nghiệp để đối phó với sự phát triển công nghệ. Do đó, để vượt qua yêu cầu này, bắt buộc phải chuyển từ hệ thống giáo dục truyền thống sang Giáo dục Dựa trên Kết quả (Outcome Based Education – OBE), bao gồm Kết quả Chương trình (PO), Kết quả Chương trình Cụ thể (PSO) và Kết quả Khóa học (CO) [83, tr.
Tác giả Roger Harris & Berwyn Clayton (2019) với bài báo “The current emphasis on learning outcomes” (Sự nhấn mạnh hiện tại vào Chuẩn đầu ra) [86]. Tác giả cho rằng xu hướng có ảnh hưởng lớn nhất đến giáo dục, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp và đào tạo, là tập trung nhiều vào CĐR. Sự nhấn mạnh này đã có ảnh hưởng sâu sắc đến không chỉ bản chất của các quá (LUAN.ra TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat (LUAN.ra 18 trình dạy và học mà còn cả các loại và tần suất đánh giá các khóa học và môn học cũng như trọng tâm của các chế độ kiểm toán và quy định. Hiện nay trên thế giới có nhiều trường đại học đào tạo ngành QLTN&MT hoặc các chuyên ngành gần với ngành QLTN&MT ở bậc đại học, điển hình như các trường đại học Ball State University (Mỹ) và University of Hawaiʻi at Mānoa (Mỹ) có đào tạo ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường (Natural Resources and Environmental Management) [91], [92], Trường Morrisville – Đại học New York (Mỹ) có đào tạo ngành Quản lý Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên (Environmental and Natural Resources Management) [93], Trường Ira A.
Fulton Schools of Engineering – Arizona State University (Mỹ) có đào tạo ngành Quản lý Môi trường và Tài nguyên (B. in Environmental and Resource Management) [94], Trường Đại học Bang Colorado (Mỹ) có đào tạo ngành Quản lý Tài nguyên thiên nhiên (Natural Resources Management) [95], Trường đại học Illinois (Mỹ) có đào tạo ngành Khoa học Tài nguyên và Môi trường [96], Trường đại học Delaware (Mỹ) có đào tạo ngành Quản lý Tài nguyên thiên nhiên [97], Trường Đại học New Brunswick (Canada) có đào tạo ngành Quản lý môi trường (Environmental Management), Trường College of Science – Đại học Quốc gia Australia có đào tạo ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường [98], Trường đại học Edith Cowan (Australia) có đào tạo ngành Quản lý Môi trường [99], Trường đại học Western Australia có đào tạo ngành Quản lý Tài nguyên thiên nhiên [100], Trường đại học Newcastle (Australia) có đào tạo ngành Khoa học và Quản lý Môi trường [101], trường đại học Kabul (Afghanistan) có đào tạo ngành Quản lý Tài nguyên thiên nhiên [73]… Hastings, Steven E. Bài báo này mô tả những nỗ lực của giảng viên trong việc kết (LUAN.ra TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat (LUAN.ra 19 hợp các kỹ thuật học tập dựa trên vấn đề vào một số khóa học trong chuyên ngành Quản lý tài nguyên thiên nhiên. Khoa Môi trường, Đại học Kabul (Afghanistan) với bài viết “Khung CTĐT ngành Quản lý tài nguyên thiên nhiên” [73].
Khung CTĐT này đưa ra các tiêu chuẩn và thực tiễn tốt nhất để phát triển CTĐT và cung cấp bối cảnh rộng hơn trong đó nội dung và giáo trình khóa học được phát triển và hoàn thiện. CTĐT bao gồm sự kết hợp giữa thực hành sư phạm, nội dung khóa học, trình tự khóa học, mục tiêu và kinh nghiệm học tập, và phương pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh.