Chương I, Thông tư liên tịch số 20/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 14/9/2015 về Tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp GVMN). Đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục cần có đạo đức và phẩm chất chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được nâng cao. Đội ngũ nhà giáo cơ bản đáp ứng yêu cầu về đạo đức và năng lực nghề nghiệp để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT. Vì vậy công tác quản lí hoạt động đánh giá và bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo là một nội dung rất quan trọng, một khâu không thể thiếu trong quá trình quản lí GD&ĐT nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT.
Quyết định số 06/2006/QĐ – BNV, ngày 21 tháng 3 năm 2006 về việc ban hành quy chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông công lập; Qui định về Chuẩn nghề nghiệp GVMN được ban hành kèm theo Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 22 tháng 01 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT; Công văn số 1700/BGDĐT-NGCBQLGD hướng dẫn đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non theo Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT; Thông tư 26/2018/TT-BGĐT, ngày 08 tháng 10 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp GVMN. Chỉ thị số 40/CT-TW, ngày 15 tháng 6 năm 2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục giai đoạn 2015-2020” (Ban Chấp hành Trung ương, 2014), trong mục tiêu tổng quát đã nêu “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo thông qua việc quản lí, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”. 9 Thông tư số 02/2014/TT-BGDĐT, ngày 08 tháng 02 năm 2014 Ban hành Quy chế công nhận trường MN đạt chuẩn quốc gia, tại Điều 7, khoản 2, điểm c có đề cập: “Hằng năm, có ít nhất 50% số giáo viên đạt loại khá trở lên theo quy định của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non do Bộ GD&ĐT ban hành, trong đó có ít nhất 50% số giáo viên đạt loại xuất sắc; không có giáo viên bị xếp loại kém” (Bộ GD&ĐT, 2014). Thông tư liên tịch số 20/2015/TT-BGDĐT-BNV, ngày 14 tháng 9 năm 2015 của BGDĐT-Bộ Nội Vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp GVMN, để đạt được các tiêu chuẩn, chức danh, nghề nghiệp giáo viên hạng II, III và hạng IV, GVMN có nhiệm vụ “Rèn luyện sức khỏe; hoàn thành các chương trình bồi dưỡng; tự bồi dưỡng trau dồi đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ; tham gia các hoạt động chuyên môn; bảo quản và sử dụng thiết bị giáo dục được giao” (Bộ GD&ĐT, 2015).
Ngoài ra, có một số đề tài nghiên cứu về quy trình đánh giá cũng như quản lí hoạt động bồi dưỡng GVMN theo chuẩn nghề nghiệp, như: Thực hiện đề tài nghiên cứu “Biện pháp quản lí quy trình đánh giá GVMN theo chuẩn nghề nghiệp ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương" Tác giả cho rằng: quản lí quy trình đánh giá GVMN theo chuẩn NN ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương còn những bất cập, thiếu hiệu quả, đánh giá mang tính hình thức, đối phó, chưa có tác dụng thực sự (Đặng Văn Giao, 2013). Thực hiện đề tài nghiên cứu “Biện pháp quản lí hoạt động đánh giá, xếp loại giáo viên theo chuẩn NN của hiệu trưởng ở các trường học phổ thông huyện Giai Bình, tỉnh Bắc Ninh" Đề tài này chủ yếu nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác quản lí đánh giá, xếp loại giáo viên theo chuẩn NN của hiệu trưởng ở các trường học phổ thông huyện Giai Bình, tỉnh Bắc Ninh. Với đề tài nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả công tác đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo chuẩn nghề nghiệp” tác giả cho rằng: công tác đánh giá GVMN theo chuẩn nghề nghiệp của huyện Đông Sơn còn nhiều bất cập, đặc biệt là ở các trường mầm non trên địa bàn huyện Đông Sơn là một huyện thuần nông gặp nhiều khó khăn việc tổ chức thực hiện đánh giá xếp 10 loại giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp đánh giá còn chung chung, hiệu quả đánh giá còn hạn chế (Lê Thị Phương, 2014). Tác giả (Nguyễn Thị Mạnh Tiến, 2017) với đề tài nghiên cứu “Thực trạng hoạt động bồi dưỡng giáo viên và quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở các trường MN Quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh theo chuẩn nghề nghiệp” theo tác giả một số đội ngũ CBQL nhà trường chưa công bằng thiếu quy chế dân chủ trong việc tổ chức thực hiện đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non theo chuẩn NN.
Nghiên cứu đề tài “Quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên các trường MN huyện Quốc Oai, Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp”. Tác giả cho rằng: Việc đổi mới công tác quản lí hoạt động bồi dưỡng giáo viên còn hạn chế chưa có biện pháp cụ thể để kích thích giáo viên tự học tự sáng tạo trong công tác giảng dạy và đánh giá xếp loại chuẩn NN (Đinh Thị Dung, 2017). Tuy nhiên, các công trình khoa học mới chỉ tập trung vào việc nghiên cứu nội dung, đánh giá giáo viên theo chuẩn một cách khái quát cũng như việc quản lí nội dung, quy trình đánh giá và bồi dưỡng GVMN theo chuẩn, chưa có tác giả nào nghiên cứu về quản lí hoạt động đánh giá GVMN theo Chuẩn nghề nghiệp tại các trường MN Huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Các khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non * Chuẩn nghề nghiệp Chuẩn nghề nghiệp là hệ thống các yêu cầu, tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức và năng lực nghề nghiệp của một nghề nào đó. Chuẩn NN khi được xác định sẽ đưa ra một sơ đồ về cơ cấu và hệ thống năng lực nghề nghiệp, căn cứ vào đó có thể thấy rõ quá trình phát triển năng lực nghề nghiệp của từng trình độ. Khi xác định chuẩn nghề nghiệp, người ta nói đến trình độ đào tạo ban đầu hoặc tiếp theo người lao động hoặc nói đến các bước phát triển khác nhau của toàn bộ năng lực nghề nghiệp. Chuẩn nghề nghiệp cũng sẽ thay đổi theo sự thay đổi của khoa học, kỹ thuật, của trình độ đào tạo người lao động, các yếu tố kinh tế - xã hội và cá nhân của người đó.
11 Đối với giáo viên, chuẩn NN giáo viên bao gồm: chuẩn đạo đức; chuẩn năng lực giảng dạy; chuẩn năng lực công nghệ; chuẩn năng lực giao tiếp; chuẩn năng lực thiết kế dạy học; chuẩn năng lực đánh giá người học và học tập. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cung cấp các kỹ năng thực hành dạy học, giao tiếp mang tính giáo dục, phương pháp sư phạm và khả năng tạo ra cơ hội học tập. Chuẩn giáo viên xác định những điều GV cần biết và nên làm để thúc đẩy việc học tập của các em học sinh. * Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non GVMN có đặc thù riêng, là người nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ ba tháng đến sáu tuổi.
Vì vậy, tay nghề của họ có liên quan đến nhiều kỹ năng nuôi dưỡng, kỹ năng chăm sóc sức khỏe và kỹ năng giáo dục trẻ. Mặt khác, giáo dục trẻ mầm non mang tính chất toàn diện đòi hỏi người GVMN phải có sự hiểu biết về tâm sinh lý lứa tuổi; về sự phát triển của trẻ; phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng; phương pháp giáo dục cho trẻ. GVMN vừa là thầy giáo, vừa là thầy thuốc, vừa là một nghệ sĩ, vừa là người mẹ. Chuẩn nghề nghiệp GVMN là chuẩn đào tạo ban đầu về các bước phát triển năng lực nghề nghiệp mà giáo viên tích lũy trong quá trình dạy học.
Chuẩn NN thay đổi theo yêu cầu phát triển của kinh tế-xã hội và phát triển giáo dục. Trong các yếu tố nâng cao chất lượng đào tạo (chương trình, sách giáo khoa, đồ dùng đồ chơi, thiết bị dạy học…) đội ngũ giáo viên có đủ năng lực là một yếu tố rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Khái niệm Chuẩn nghề nghiệp GVMN được đề cập rõ trong Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 22 tháng 01 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT, “Chuẩn nghề nghiệp GVMN là hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức; kỹ năng sư phạm mà giáo viên mầm non cần phải đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục mầm non” (Bộ GD&ĐT, 2008). Đây là khái niệm mà luận văn lựa chọn để xây dựng cơ sở lí luận.
Khái niệm hoạt động đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp * Đánh giá 12 Đánh giá (Evaluation) là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ kiện đo lường được qua các kỳ kiểm tra/lượng giá (Assessement) trong quá trình và kết thúc bằng cách đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn đã được xác định rõ ràng trước đó trong các mục tiêu. Theo (Nguyễn Đức Chính, 2005), thuật ngữ đánh giá được định nghĩa “Đánh giá là quá trình thu thập và xử lí thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào”. Như vậy, có thể hiểu nội hàm của đánh giá là: + Đánh giá là quá trình thu thập, xử lý thông tin để định lượng tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có kết quả. + Đánh giá là quá trình mà qua đó ta gán (quy) cho đối tượng một giá trị nào đó.
+ Đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định, xác định giá trị thực trạng ở thời điểm hiện tại đang xét so với mục tiêu hay chuẩn mực đã được xác lập. * Hoạt động đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp Theo Từ điển Tiếng Việt của (Viện Ngôn ngữ học, 1997): “Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội”. Theo quan điểm tâm lí học, hoạt động là sự tác động qua lại giữa con người (chủ thể) với thế giới tự nhiên, xã hội và bản thân (khách thể, đối tượng) tạo ra sản phẩm cả về phía chủ thể và đối tượng. Hoạt động gồm các hành động thực hiện các mục đích tương ứng với hành động đó.