CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình 1.1 Một số khái niệm liên quan 1.1 Khái niệm về dân số Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính[6]. Dân số bao gồm 04 yếu tố cơ bản sau: Quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và chất lượng dân số. + Quy mô dân số là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế, hoặc đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định. + Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác + Phân bố dân cư là sự phân chia tổng hợp số dân theo khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc đơn vị hành chính.
+ Chất lượng dân số: Là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số.2 Khái niệm về kế hoạch hóa gia đình Kế hoạch: là điều đặt ra với các mục tiêu và cách thức thực hiện nhằm đạt được trong thời gian tới. Kế hoạch hóa gia đình: có thể hiểu là việc chủ động quyết định số con của các cặp vợ chồng và khoảng cách giữa các lần sinh thông qua việc áp dụng các biện pháp tránh thai để có gia đình ít con, khỏe mạnh, giàu có, hạnh phúc. Việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình nhằm đảm bảo cho việc nuôi dạy con cái tốt hơn và đảm bảo sức khỏe của người phụ nữ. Nếu không thực hiện kế hoạch hóa gia đình thì mỗi năm mỗi phụ nữ có chồng đều phải sinh con và sinh nhiều con thì sức khỏe của người phụ nữ sẽ bị ảnh hưởng, giảm sút, đồng thời trẻ em sẽ không được chăm sóc toàn diện [7].
5 Có nhiều biện pháp để thực hiện kế hoạch hóa gia đình như đặt vòng, uống thuốc tránh thai, thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy tránh thai, đình sản và sử dụng bao cao su. Trong đó bao cao su được sử dụng như là một công cụ vừa để ngừa thai, vừa để ngăn ngừa các bệnh lây qua đường tình dục nhất là HIV/AIDS.3 Khái niệm về công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và mối quan hệ giữa Dân số và Kế hoạch hóa gia đình Công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình: là sự nỗ lực mang tính quyết sách của Nhà nước trong chủ trương khống chế một cách khoa học dân số sao cho sự phát triển dân số phù hợp và không gây cản trở tới việc phát triển kinh tế xã hội đất nước, ổn định cơ cấu dân số và nâng cao chất lượng dân số. Mối quan hệ giữa Dân số với Kế hoạch hóa gia đình: vấn đề dân số có liên quan mật thiết tới kế hoạch hóa gia đình. Dân số hiểu theo nghĩa rộng chính là vấn đề con người.
Nếu dân số đông và tăng nhanh sẽ gây sức ép lên mọi mặt của đời sống xã hội, làm suy giảm nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, cản trở sự phát triển nền kinh tế đất nước. Vì vậy mục tiêu dân số là phải quản lý, điều chỉnh số sinh và để đạt được điều đó thì phải xây dựng chính sách về kế hoạch hóa gia đình. Chính sách về kế hoạch hóa gia đình lại được đặt ra trên căn cứ thực tiễn dân số của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Ở địa phương có mức sinh cao, cần nỗ lực để giảm tỷ lệ sinh và đạt được mức sinh thay thế, ngược lại ở những địa phương đã đạt được mức sinh thay thế thì tiếp tục duy trì mức sinh ổn định.
Có thể thấy, kế hoạch hóa gia đình là một nội dung hẹp của vấn đề dân số, là việc đặt ra chỉ tiêu một cách khoa học về sinh đẻ thông qua sử dụng các biện pháp tránh thai. Kế hoạch hóa gia đình nếu thực hiện tốt sẽ có lợi về nhiều mặt: đối với sức khỏe bà mẹ trẻ em, đối với kinh tế gia đình, đối với sự phồn vinh của cộng đồng và đất nước.2 Quản lý nhà nước về công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình 1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước về công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình Quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình: là việc nhà nước thông qua hệ thống chính sách, luật pháp và cơ chế tổ chức các cơ quan quản lý của mình để điều khiển và tác động vào các đối tượng của quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu về 6 quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước [8]. Như vậy, nhà nước quản lý công tác DS-KHHGĐ bằng pháp luật thông qua các yếu tố của dân số với việc đặt ra các mục tiêu cụ thể về quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số. Quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình là quá trình tác động có ý thức, có tổ chức của nhà nước đến các quá trình và yếu tố dân số nhằm làm thay đổi trạng thái dân số để đạt được mục tiêu đã đề ra [8].
Quá trình quản lý đó đi từ việc nghiên cứu hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, các chiến lược, chương trình, kế hoạch, xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy, hình thành cơ chế quản lý điều hành và tác động làm cho các chủ trương, chính sách đến tận người dân và biến nó thành hiện thực trong cuộc sống. Quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ đòi hỏi phải nắm được một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác tình hình dân số bao gồm quy mô, cơ cấu, phân bổ và chất lượng dân số [8]. Từ khái niệm quản lý nhà nước về công tác Dân DS-KHHGĐ cho thấy quá trình này bao gồm các yếu tố: Chủ thể quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ là nhà nước với hệ thống các cơ quan của nhà nước được phân chia thành các cấp và bao gồm cả 3 lĩnh vực là lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó quản lý hành chính (hành pháp) về DS-KHHGĐ là cực kỳ quan trọng. Trong lĩnh vực DS-KHHGĐ, nhà nước chỉ tác động vào nhận thức và hành vi về DS-KHHGĐ hoặc liên quan đến DS-KHHGĐ.
Hệ thống quản lý nhà nước được xây dựng theo chiều dọc từ Trung ương đến địa phương, nhằm tạo được cơ cấu quản lý phù hợp với chức năng quản lý theo vùng, lĩnh vực và theo ngành. Hệ thống quản lý nhà nước là tập hợp các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền và được xác định rõ chức năng, phạm vi quyền hạn, nghĩa vụ của từng đơn vị và cán bộ công chức, viên chức. Đối tượng quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ là các quá trình dân số liên quan đến quy mô, cơ cấu, phân bổ và chất lượng dân số. Khách thể của quản lý nhà nước về dân số là các tổ chức, cá nhân.
Mục tiêu quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ xét một cách 7 chung nhất là trạng thái thay đổi về các yếu tố quy mô, cơ cấu, phân bổ dân số, chất lượng dân số hoặc các quá trình sinh, chết, di dân… mà nhà nước mong muốn đạt được cho phù hợp và tạo điều kiện nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước về kinh tế, xã hội và môi trường. Quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ cũng như các lĩnh vực khác được thực hiện thông qua việc ban hành và thực thi các đường lối, chính sách và pháp luật. Đồng thời trong những điều kiện cụ thể, nhà nước đảm nhiệm việc tổ chức, cung cấp các dịch vụ về dân số như là các dịch vụ công, để quá trình thay đổi nhận thức và hành vi của công dân, tổ chức diễn ra đúng hướng và nhanh chóng hơn. Quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ phải được hoạch định và thực hiện có kế hoạch, có tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá thường xuyên như các hoạt động xã hội khác trong hệ thống quản lý nhà nước.
Việc thực hiện quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ bao giờ cũng diễn ra trong các điều kiện, bối cảnh cụ thể và luôn được tính toán cho phù hợp với các điều kiện và bối cảnh đó, đảm bảo đạt được mục tiêu cuối cung đồng thời hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đến sự ổn định xã hội trước mắt và lâu dài.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình - Quản lý công tác DS-KHHGĐ phải dựa vào nhân dân, thông qua việc tác động làm chuyển đổi nhận thức và hành vi của từng người dân và toàn xã hội, đi đến tự nguyện thực hiện chính sách, luật pháp của nhà nước vì lợi ích của chính mình và vì sự nghiệp phát triển đất nước. - Quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ là một khoa học vì có đối tượng nghiên cứu riêng, đó là các quan hệ quản lý. Các quan hệ trong quản lý nhà nước về DS- KHHGĐ chính là hình thức của quan hệ xã hội và quan hệ kinh tế (gồm quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối.), thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình tiến hành các hoạt động DS-KHHGĐ, bao gồm quan hệ giữa hệ thống cơ quan DS-KHHGĐ cấp trên với hệ thống cơ quan DS-KHHGĐ cấp dưới; quan hệ giữa người lãnh đạo và người thực hiện; quan hệ giữa cơ quan thường trực với cơ quan thành viên Ban Chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ các cấp; quan hệ giữa cơ quan 8 thường trực DS-KHHGĐ với các cơ quan chính quyền cùng cấp; quan hệ giữa người quản lý, thực hiện chương trình với đối tượng của chương trình. Tính khoa học của quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ trước hết đòi hỏi phải dựa vào sự hiểu biết sâu sắc quy luật khách quan, hình thức biểu hiện của các quy luật, các yếu tố ảnh hưởng tới công tác DS -KHHGĐ, chứ không chỉ dựa trên kinh nghiệm cá nhân và trực giác của người lãnh đạo.
Sự hiểu biết và nhận thức đầy đủ về quy luật quá độ nhân khẩu học, quy luật về sự phụ thuộc của hành vi sinh đẻ với các điều kiện kinh tế-xã hội và văn hoá, quy luật về sinh học, quy luật hút-đẩy trong biến động dân số cơ học.