CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN QUẢN LÍ CHUYỂN GIAO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀO ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Về nghiên cứu khoa học và quản lí nghiên cứu khoa học Ở nhiều nước trên thế giới, nghiên cứu khoa học là bắt buộc trong các cơ sở giáo dục đại học đối với giảng viên, nghiên cứu viên [52], chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong trường đại học [49]. Hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của người dạy và người học.
Giảng viên ở trường đại học cần phải có kiến thức cơ bản về khoa học, hoạt động khoa học. Những kiến thức này được tích luỹ một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động NCKH này được xác định mục tiêu rõ ràng, có nội dung triển khai và sử dụng phương pháp nghiên cứu phù hợp. Các trường đại học được xem là chìa khoá trong các hệ thống đổi mới, sáng tạo của một quốc gia. Vai trò của trường đại học rất quan trọng trong việc phát hiện ra trí thức mới, đào tạo và truyền tải kiến thức cho người học, những nhà khoa học trong tương lai [15].
Sự phát triển của trường đại học phụ thuộc nhiều vào đội ngũ giảng viên, trong đó có hoạt động NCKH của giảng viên. Nghiên cứu khoa học trong trường đại học không chỉ thực hiện nhiệm vụ theo sứ mệnh của nhà trường, mà nó giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến sự phát triển của xã hội như tạo ra tri thức mới, cung cấp nguồn nhân lực, chuyển giao khoa học kĩ thuật phục vụ sản xuất, đồng thời từng bước nâng cao chất lượng đào tạo [15]. Hoạt động NCKH đóng vai trò và ý nghĩa rất quan trọng đối với giảng viên trong trường đại học. NCKH giúp giảng viên có điều kiện nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực chuyên môn, mở rộng kiến thức, hiểu biết về chuyên ngành; góp phần phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, hình thành phẩm chất của nhà khoa học.
Hơn nữa, NCKH là điều kiện để giảng viên bồi dưỡng, nâng cao năng lực nghiên cứu, đồng thời nâng cao vị thế của giảng viên và 23 nhà trường trong cộng đồng, xã hội [25]. Hoạt động NCKH bao gồm việc truyền bá tri thức khoa học và hướng dẫn người học thực hiện công trình NCKH [1]. Tác giả Trần Mai Ước (2013) đề cập đến vấn đề nghiên cứu khoa học của giảng viên như là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, tác giả đã chỉ ra những hạn chế, bất cập về NCKH của giảng viên; một bộ phận giảng viên chưa nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học, cách tìm tài liệu tham khảo, thậm chí, chưa nắm vững xây dựng đề cương, chưa chú ý tìm hiểu cách trình bày một công trình nghiên cứu khoa học; các đề tài giảng viên lựa chọn mang tính chất khái quát, tổng quan nhiều, chưa sâu, chưa đi vào những vấn đề cụ thể, bỏ ngỏ nhiều vấn đề thiết thực; tiêu chí đánh giá về NCKH và giảng dạy chưa rõ ràng, dẫn đến nhiều giảng viên chỉ quan tâm đến hoạt động giảng dạy hơn hoạt động NCKH [25].
Nghiên cứu về quản lý nghiên cứu khoa học ở các trường đại học đã được một số tác giả thực hiện như: “Mô hình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực” của tác giả Lê Yên Dung (2010) [7]; “Quản lý nghiên cứu khoa học tại các cơ sở bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục” của tác giả Ngô Viết Sơn (2015) [16]; “Quản lý nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học sư phạm” của tác giả Hoàng Nhị Hà (2009) [9]. Nói tóm lại, NCKH và quản lí NCKH là nhiệm vụ cơ bản của các trường đại học, nó không chỉ góp phần nâng cao chất lượng cho đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và người học, mà thông qua đó, các trường đại học thực hiện sự mệnh tạo ra tri thức, truyền bá và áp dụng vào giảng dạy cũng như yêu cầu phát triển khoa học công nghệ và kinh tế, xã hội. Về chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học vào đào tạo NCKH của các trường đại học được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với quá trình đào tạo [20]. Quá trình dạy học bao gồm các yếu tố mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, các hoạt động dạy – học, phương pháp dạy học, 24 phương tiện dạy học và kết quả học tập.
Các yếu tố này có quan hệ, tương tác qua lại với nhau [23]. Theo Nguyễn Đức Trí (2010), các thành tố cấu thành hoạt động đào tạo bao gồm mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, hình thức tổ chức đào tạo, phương pháp đào tạo, phương tiện đào tạo, lực lượng đào tạo (người dạy), đối tượng đào tạo (người học), điều kiện đào tạo, môi trường đào tạo, quy chế đào tạo, bộ máy đào tạo, kết quả đào tạo [21]. M (1990) đã đưa ra bốn nhóm thành tố cơ bản trong chương trình giáo dục bao gồm mục đích và chuẩn chương trình, phạm vi và nội dung chương trình, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học và kinh nghiệm học tập, đánh giá kết quả giáo dục. Đồng thời, các thành tố và mối quan hệ giữa chúng được nhúng trong bối cảnh quốc gia (xã hội, chính trị, chính sách, môi trường,…) [49].
Như vậy, quá trình đào tạo nói chung đều bao quát các thành tố như mục tiêu đào tạo, đối tượng đào tạo, chủ thể đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, phương thức đào tạo, điều kiện phục vụ đào tạo. Gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo được nhiều tác giả phân tích ở các khía cạnh khác nhau và đang thu hút sự chú ý quan trọng của cả các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu quốc tế [47] [54] [75]. Hầu hết các nghiên cứu này nhằm mục đích chứng minh hoặc bác bỏ sự có mối quan hệ rõ ràng giữa giảng dạy và nghiên cứu [49] [58] [61] [68] [88]. Các tác giả kết luận rằng sự tham gia vào giảng dạy sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kết quả nghiên cứu.
Ngược lại, tích hợp kết quả nghiên cứu khoa học vào giảng dạy sẽ đóng góp đáng kể cho năng suất giảng dạy của giảng viên. Cơ chế gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học với sản xuất và dịch vụ trong các trường đại học đòi hỏi phải chú ý đến sự liên kết giữa đại học, doanh nghiệp và cơ sở sử dụng lao động, đây là kết quả được đúc kết qua nhiều năm nghiên cứu và phát triển giáo dục đại học tại các quốc gia phát triển [18]. Kiến thức là nền tảng thực sự của giáo dục đại học, nó được sản xuất thông qua nghiên cứu, truyền tải thông qua giảng dạy, tiếp thu và sử 25 dụng bởi các sinh viên. Chuyển giao kiến thức có nghĩa là truyền đạt và phổ biến kiến thức giữa các tổ chức khác nhau hoặc trong một tổ chức.
Các cuộc họp, đào tạo và liên lạc cá nhân thường xuyên là những cách để truyền đạt kiến thức. Việc phổ biến kiến thức khác nhau tùy thuộc vào hình thức kiến thức nên được chuyển giao. Kiến thức rõ ràng có thể dễ dàng được chuyển giao bởi tài liệu lưu trữ, sách, cơ sở dữ liệu và công nghệ phần mềm [67]. Chuyển giao kiến thức trong trường học thông qua các khóa đào tạo [78].
Chuyển giao kiến thức trong trường đại học là cung cấp cho sinh viên các chương trình đào tạo khác nhau nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức để chuẩn bị nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế khác nhau. Kiến thức cung cấp phải đáp ứng với nhu cầu thị trường lao động và theo kịp sự thay đổi của nền kinh tế toàn cầu và thay đổi trong quá trình đổi mới. Nghiên cứu về các trường đại học ở New Zealand của Jane Robertson [59] chỉ ra rằng thông qua hoạt động đào tạo có thể cung cấp một diễn đàn để thử nghiệm các ý tưởng nghiên cứu, đặc biệt đối với người học bằng cách kích thích hình thành các ý tưởng nghiên cứu mới. Ngoài ra, hoạt động giảng dạy được coi là một phần quan trọng đầu vào cho nghiên cứu khoa học, trong đó vai trò của giảng viên rất quan trọng trong việc định hướng các vấn đề cho người học.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ mới đề cập đến sự tác động qua lại giữa người học và người dạy, giữa nghiên cứu và giảng dạy, trong khi đó chưa làm rõ vai trò của các bên liên quan trong quản lí kết quả nghiên cứu với quản lí đào tạo trong nhà trường. Amaratunga và Senaratne (2004) [30] đưa ra những nguyên tắc chuyển giao kết quả nghiên cứu vào giảng dạy đòi hỏi các bên liên quan phải có: - Các giảng viên cần phải có hoạt động nghiên cứu hiệu quả để việc giảng dạy của họ được nghiên cứu một cách tự nhiên. Các tác giả cho rằng điều quan trọng là các giảng viên phải chủ động nghiên cứu để có thể giảng dạy có chất lượng tốt. Nếu các giảng viên chủ động nghiên cứu thì việc chuyển giao kết quả nghiên cứu vào giảng dạy sẽ diễn ra một cách tự nhiên và không chính thức.
Bên cạnh đó, các giảng viên cần phải xem xét tính hiệu quả của phương pháp giảng dạy, đồng thời kích thích tư duy phê phán của người 26 học bằng cách cung cấp cho họ kiến thức, kết quả nghiên cứu của mình thông qua hoạt động đào tạo. - Các cơ sở đào tạo cần phải cân đối một cách hợp lí việc nghiên cứu và giảng dạy về khối lượng công việc để các giảng viên có kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học tham gia giảng dạy. Đồng thời, nên xem xét các quy trình quản lí để chuyển kết quả nghiên cứu khoa học vào hoạt động đào tạo để kích thích việc giảng dạy có thông tin nghiên cứu. Như vậy, chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học vào đào tạo là một yêu cầu bắt buộc trong trường đại học.
Gắn kết NCKH với đào tạo hiện nay có những thay đổi, giúp cho tri thức luôn được tạo ra và truyền bá, giữa chúng luôn có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau, mang lại những lợi ích có các cơ sở giáo dục đại học. Có thể thấy rằng, chuyển giao KQNCKH vào đào tạo giúp cả hai hoạt động này thống nhất về mục tiêu và phương thức quản lí, quá trình tri thức luôn được tạo ra và truyền bá diễn ra liên tục và mang tính hệ thống.