CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI Ứng dụng CNTT trong quản lý đại học đã được các nước phát tiển trên thế giới nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ trước. Họ cho rằng CNTT được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để giảng dạy cũng như quản lý trong giáo dục. Vì vậy, CNTT được nghiên cứu và ứng dụng mạnh mẽ tại các nước phát triển khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ và những nước thuộc châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Inđônêxia, Ấn Độ.
Trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển như Pháp, Mỹ, Anh, Nhật Bản,…rất chú trọng về vấn đề ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nó là một trong những động lực chính thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Và nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lượng ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục đại học. Đối với các nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, việc ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục và đào tạo được thực hiện chưa đồng bộ.
Các nước như Úc, Hàn Quốc và Singapore, Bộ Giáo dục của họ đã hình thành một quốc gia CNTT trong chính sách giáo dục với sự đầu tư rất quy mô về tài chính. Với mục tiêu tích hợp CNTT vào quá trình quản lý nhằm xây dựng trường học thông minh. Đối với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Malaysia, Philippines, Ấn Độ. chính sách phát triển CNTT trong giáo dục được liên kết với chính sách và kế hoạch tổng thể về CNTT của quốc gia.
(1) Tại Singapore năm 1981, đã thông qua đạo luật về tin học hóa quốc gia quy định ba nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ dạy tin học ở trường phổ thông; ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học; Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý trường học. 8 (2) Năm 1989, tại Philippin chiến lược phát triển CNTT quốc gia đã được ông bố. Bản chiến lược xác định: công nghệ thông tin phục vụ phát triển kinh tế xã hội đất nước và học tin học, ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy. (3) Ở Đài Loan Kế hoạch 10 năm phát triển CNTT đã được công bố năm 1980.
Hay ở Australia, năm 2000 hội đồng Bộ trưởng đã ủng hộ hướng đi được trình bày trong tài liệu “cơ cấu phát triển thúc đẩy ứng dụng CNTT, quản lý ứng dụng CNTT”… (4) Năm 2009, tại Hội nghị Á – Âu về học tập suốt đời tổ chức tại Nha Trang, Việt Nam đã thống nhất phối hợp nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho mọi người. Năm 2010 diễn đàn về học tập suốt đời tổ chức tại Hà Nội, các đại biểu đến từ Đan Mạch, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. cũng đã có nhiều báo cáo ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục. Ngày nay, vấn đề ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục và đào tạo đã được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm.
Tại hội nghị Bộ trưởng các nước Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) đã đề cập đến "Giáo dục không biên giới" mà vai trò của CNTT là khâu then chốt. Ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục sẽ hỗ trợ đắc lực cho những cán bộ quản lý. (5) Năm 1991, VeronicaMc Givney và Frances Murray đã đề ra các biện pháp tiến hành trong quá trình DH nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HV lớn tuổi bao gồm: biên soạn và cấu trúc nội dung tài liệu học phù hợp, cung cấp tài liệu tra cứu, tăng cường các TBDH hiện đại kết hợp với việc thiết kế các TBDH đơn giản rẻ tiền ở địa phương, tăng cường tự học ở trên lớp và ở nhà.Tinnio năm 2003 đã viết cuốn sách “Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục” [164]. Cuốn sách này được trình bày trong dung lượng 49 trang và chia làm 5 phần khác nhau, trong đó: 9 Phần 1: Định nghĩa thuật ngữ Phần 2: Triển vọng của ICT đối với giáo dục Phần 3: Sử dụng ICT trong giáo dục Phần 4: Những vấn đề về sử dụng ICT trong giáo dục Phần 5: Những thách thức trong việc lồng ghép ICT vào giáo dục.
Với cách trình bày khoa học, lô gic dựa trên 5 phần trên, công trình đã các Khái quát rõ nét trên các khía cạnh: Thứ nhất, những ích lợi tiềm năng của việc sử dụng CNTT và truyền thông trong giáo dục và các cách ứng dụng CNTT và truyền thông khác nhau đã được sử dụng trong giáo dục từ trước đến nay. Thứ hai, đặt ra bốn vấn đề cơ bản trong việc sử dụng CNTT và truyền thông trong giáo dục là tính hiệu quả, chi phí, sự hợp lý và tính ổn định. Thứ ba, những thách thức quan trọng mà các nhà hoạch định chính sách ở các nước đang phát triển cần lưu ý khi đưa ra các quyết định về việc ứng dụng CNTT và truyền thông vào giáo dục, đó là các vấn đề chính sách, quy hoạch giáo dục, cơ sở hạ tầng, quy mô xây dựng, ngôn ngữ, nội dung, và vốn cấp [164]. (7) Jeannette Vos – Gorden Dryden (2004), trong cuốn Cách mạng học tập những yếu tố và phương pháp để học tập tốt có nói đến vai trò mới của những phương tiện liên lạc điện tử: “Chính sự kết hợp Internet, máy tính và cách mạng trang Web, thế giới đang được định hình lại toàn bộ thế hệ, thậm chí còn mạnh mẽ hơn so với trước đây khi báo chí, in ấn, radio và TV đã tạo ra”.
Tác giả còn đề cập đến vai trò của máy vi tính đối với GV và NH: “Máy vi tính với công nghệ tiên tiến cao có khả năng phục vụ những người thầy phụ đạo và như những thư viện, cung cấp thông tin và ý kiến phản hồi nhanh chóng cho từng người học”[163]. Có thể nói, cuốn sách Cách mạng học tập những yếu tố và phương pháp để học tập tốt đã được hai tác giả nổi tiếng (Jeannette Vos và Gorden Dryden) 10 đưa ra thông điệp: Chúng ta cần có một cuộc cách mạng về học tập để tương xứng với cuộc cách mạng tri thức. (8) Nghiên cứu việc ứng dụng CNTT đảm bảo phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục, cũng như đặc thù ở một quốc gia nhất định, nhóm 3 tác giả Sharmela Devi, Mohammad Ziwaan, Shubash Chander trong bài viết “Information and communication technology for quality education in India - Công nghệ thông tin và truyền thông cho chất lượng giáo dục ở Ấn Độ” [159] đã nhấn mạnh việc ứng dụng CNTT và truyền thông trực tiếp nâng cao chất lượng giáo dục chính quy và không chính quy; trong phát triển nội dung giáo dục, quản lý giáo dục. Các tác giả khẳng định: “CNTT và truyền thông là một trong những thành phần không thể thiếu ở xã hội đương đại trong tất cả các cấp học ở Ấn Độ.
Tiếp cận CNTT và truyền thông trong giai đoạn đầu của nền giáo dục sẽ giúp cho thế hệ trẻ đối diện với những gì ở phía trước” [159, tr. Chỉ ra mối quan hệ giữa CNTT với giáo dục, tác giả Seyling Wen (có công trình “Công nghệ thông tin và nền giáo dục trong tương lai” [100]. Trong công trình này, tác giả đã khẳng định rằng nhận thức việc đổi mới giáo dục không còn là một khẩu hiệu, mà là những hành động cụ thể. Hiên nay cả thể giới đã đi vào cuộc cải cách giáo dục với mục tiêu là giáo dục trở thành nền tảng căn bản nhất trong thế kỷ 21.
Đặc biệt, trong thế kỷ này, CNTT và truyền thông đã tạo ra sự biến đổi xã hội một cách sâu sắc, toàn diện thì giáo dục không thể nằm ngoài sử tác động của nó. CNTT và truyền thông đã làm thay đổi mạnh mẽ cách thức dạy, học và quản lý. Vì vậy, mọi tổ chức cá nhân giáo dục có thể chọn cách thức hiệu quả nhất đối với công việc cụ thể [100]. Đề cập trực tiếp đến vai trò của CNTT và truyền thông đối với giáo dục hiện nay, tác giả Sukanta Sarkar thuộc Khoa quản lý Trường Đại học ICFAL của Ấn Độ trong bài viết “The Role of Information and Communication Technology (ICT) in Higher Education for the 21st- Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục đại học của thế kỷ 11 21” [161] cho rằng CNTT và truyền thông đã tác động vào thực tiễn giáo dục, góp phần tăng trưởng đáng kể cho các hoạt động giáo dục đại học…Và vấn đề dạy học trực tuyến đã phát triển phổ biến và được thực hiện mạnh mẽ thông qua hệ thống CNTT.
Công cụ này đã giúp cho sinh viên gặp bớt được nhiều khó khăn để đến trường do: Việc làm, trách nhiệm gia đình, vấn đề sức khỏe, về thời gian, thì giáo dục trực tuyến là lựa chọn duy nhất cho họ. Hệ thống đào tạo trực tuyến này đã thành công trong một số trường ở Ẩn Độ và các trường đại học ở các nước khác như: Đại học Phoenix, Đại học Athabasca (Canada), Đại học Harvard và Đại học Toronto. Tác giả Sukanta Sarkar nhận thấy, trong những vấn đề phát triển tiềm năng giáo dục, UNESCO đã đóng một vai trò quan trọng, tiên phong đưa ra sáng kiến để triển khai, tận dụng tiềm năng của CNTT. Tại hội nghị Dakar về chương trình Giáo dục cho tất cả mọi người do UNESCO tổ chức; Sukanta Sarkar (2007) đã phát biểu xem việc tích hợp CNTT trong giảng dạy và học tập là vấn đề quan trọng trong đổi mới giáo dục đại học, đồng thời xem CNTT như là công cụ không thể thiếu trong xã hội tri thức; và nó phải được xem như là "Một khía cạnh thiết yếu của bộ công cụ văn hóa giảng dạy trong thế kỷ XXI”.
Đồng thời, tác giả lưu ý về bốn vấn đề khi đưa CNTT vào hoạt động giảng dạy: Một là, sử dụng công nghệ cần phải xem xét nhu cầu của người học và vấn đề nội dung; Hai là, không áp đặt hệ thống công nghệ từ trên xuống dưới mà phải thông qua người dạy và người học; Ba là, áp dụng nội dung từ các khu vực, quốc gia khác phải tùy cơ ứng biến cho phù hợp với thực trạng; Bốn là, xây dựng nội dung, thiết kế bài giảng phải phù hợp với công nghệ sử dụng. Từ các vấn đề trên cho thấy, trong thực tiễn giáo dục, CNTT đã thể hiện vai trò mạnh mẽ trong mở rộng hoạt động đào tạo ở các nước trên thế giới; và nhờ ứng dụng mạnh mẽ ICT đã làm tăng trưởng hệ thống giáo dục đại học ở Ấn Độ[161].