MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài (1) Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cùng với sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học, kỹ thuật, công nghệ làm cho nhu cầu phát triển nhân lực ngày càng trở nên cấp bách đối với mỗi quốc gia. Ngày nay, hầu hết các quốc gia đều coi nguồn nhân lực (NNL) là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển đấ t nƣớc nhanh và bền vững. Ở Việt Nam trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng nhƣ: NQTW 2 khóa VIII, kết luận hội nghị TW6 - khóa IX và các nghị quyết Đại hội đảng lần thứ X, XI ngày càng nhấn mạnh điều đó.
Để nhanh chóng “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.” [40] để tiến kịp với các nƣớc phát triển và hội nhập với thế giới chúng ta phải có những giải pháp tích cực, đồng bộ và hiệu quả. Mặt khác, phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ cùng với sự phát triển của KT tri thức đòi hỏi chúng ta phải có NNL phù hợp. Bài học kinh nghiệm của nhiều nƣớc phát triển trên thế giới đã chỉ rõ rằng: Phát triển NNL chất lượng cao là biện pháp tiên quyết để xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiê ̣p hóa- hiê ̣n đại hóa (CNH-HĐH), nhất là đối với những nước chậm phát triển, những nước nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam và nhiều nước ở Châu Á, Châu Phi.[125] Điều này hiện nay đang là một thách thức đối với các nền kinh tế thế giới. (2) Việc đào tạo NNL có cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu về số lƣợng , đảm bảo về chất lƣợng cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) nói chung và cho sự nghiệp CNH-HĐH nói riêng ở nƣớc ta hiện nay không những phải phù hợp với nhu cầu đào tạo NNL trong cả nƣớc mà với mỗi địa phƣơng cũng cần chủ động trong việc đào tạo NNL, đáp ứng tình hình phát triển KT-XH ở địa phƣơng z mình.
Nƣớc ta đang trong quá trình CNH -HĐH, viê ̣c đào ta ̣o một đội ngũ nhân lực có chất lƣợng cao, đồng bộ về cơ cấu ngành nghề và trình độ đang trở thành vấn đề cấp thiết. Dân số nƣớc ta đang ở thời kỳ dân số vàng, tuy nhiên, NNL của quốc gia mới chỉ là tiềm năng phát triển và nó chỉ trở thành động lực của sự phát triển đất nƣớc khi đƣợc phát huy bằng những cách thức khác nhau. Giáo dục và đào ta ̣o (GD & ĐT) là nhân tố quan trọng nhất để phát huy tiềm năng đó bởi thực chất, nó làm tăng giá trị con ngƣời về các mặt trí, đức, thể, mỹ. Chất lƣợng NNL là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nƣớc.
Chất lƣợng NNL đƣợc hiểu một cách tổng hợp bao gồm nhiều thành tố tạo nên, đó là: trình độ học vấn, văn hóa, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp v. Những thành tố đó có thể đạt đƣợc chủ yếu thông qua GD&ĐT. Tuy nhiên, sự đổi mới công nghệ nhanh chóng khiến cho tri thức, kỹ năng mới đƣợc học có thể trở thành lạc hậu sau một thời gian rất ngắn, vì vậy đòi hỏi ngƣời lao động phải có tinh thầ n học suốt đời và biết học suốt đời ; đòi hỏi hệ thống giáo du ̣c ở mỗi quốc gia phải lựa chọn xu thế thích hợp để phát triển nhằm đạt hiệu quả và chất lƣợng cao, đáp ứng yêu cầu của chiến lƣợc phát triển KT - XH. Để thực hiện mục tiêu nói trên , cầ n có nhiều xu hƣớng và giải pháp mới trong giáo du ̣c.
Một trong các xu hƣớng đó chính là giáo du ̣c cộng đồng. (3) Giáo dục cộng đồng (GDCĐ) là loại hình giáo dục đƣợc phát triển mạnh ở nhiều nƣớc trên thế giới (Mỹ, Nhật, Pháp, Ấn Độ , Malaysia…), đã trở thành nhân tố quan trọng nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giáo du ̣c , đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của nhiều cộng đồng dân cƣ ở các nƣớc. Do đó việc nghiên cứu hoàn thiê ̣n chính sách đố i với hệ thống GDCĐ ở nƣớc ta là một vấn đề vừa cần thiết, vừa cấp bách. Một trong những đặc trƣng cơ bản của loại hình GDCĐ là hƣớng hoạt động của các cơ sở GD & ĐT vào việc thỏa mãn nhu cầu về giáo du ̣c của từng cá nhân và cộng đồng dân cƣ trong các vùng KT -XH có những đặc thù riêng biệt, gắn nội dung đào ta ̣o phù hợp với nhu cầu nhân lực ở địa phƣơng.
Đồng thời, huy động mọi nguồn lực cá nhân và cộng đồng vào quá trình phát triển z GD&ĐT. Chính sự kết hợp chặt chẽ 2 yếu tố đó đã tạo nên sức sống và hiệu quả của giáo du ̣c cộng đồng. GDCĐ bao gồm nhiều hình thức tổ chức nhƣ trung tâm học tập cộng đồng, trƣờng cao đẳng cộng đồng, trƣờng đại học đa cấ p đa ngành , đa liñ h vƣ̣c thuô ̣c sƣ̣ quản lý của UBND các tin̉ h /thành phố trƣ̣c thuô ̣c trung ƣơng vì mu ̣c tiêu phát triể n cô ̣ng đồ ng. Ở nƣớc ta sự hình thành và phát triển các loại hình GDCĐ có những đặc trƣng khác biệt so với các nƣớc khác.
Các cơ sở giáo du ̣c nghề nghiệp tại các địa phƣơng rất đa dạng và biến động rất nhanh. Việt Nam đã pháp chế hóa các trung tâm học tập cộng đồng , các trung tâm giáo dục thƣờng xuyên , thành lập một số trƣờng cao đẳ ng cô ̣ng đồ ng (CĐCĐ) và một số trƣờng đại học thuô ̣c sƣ̣ quản lý nhà nƣớc (QLNN) của UBND các tỉnh/thành phố đƣơ ̣c go ̣i tắ t là trƣờng đa ̣i ho ̣c thuô ̣c tin̉ h (ĐHTT). Loại trƣờng này hƣớng vào việc đào ta ̣o đội ngũ cán bộ có trình độ tƣ̀ đa ̣i ho ̣c (ĐH), cao đẳ ng (CĐ) trở xuố ng, thoả mãn nhu cầu nhân lực kỹ thuật cho công cuộc phát triển KT - XH ở các địa phƣơng và các vùng kinh tế. Tại một số tỉnh /thành phố trƣờng CĐCĐ đã phát triển thành trƣờng ĐHTT , đào ta ̣o đa cấ p , đa ngành và mang đầ y đủ đặc trƣng của trƣờng cộng đồng.
Do mục tiêu, sứ mệnh, chức năng và đă ̣c trƣng của các trƣờng ĐHTT đã bao hàm mục tiêu, sứ mệnh, chức năng và đă ̣c trƣng của trƣờng CĐCĐ nên ở Viê ̣t Nam , mô ̣t số trƣờng cao đẳ ng khác cũng là cơ sở để thành lâ ̣p trƣờng ĐHTT (4) Các trƣờng ĐHTT có phát huy đƣợc vai trò của mình hay không, ngoài sự cố gắng nỗ lực của chính các trƣờng còn phụ thuộc nhiều vào sự chỉ đạo, điều hành và cơ chế, chính sách của các cơ quan quản ly,́ nhà lãnh đạo từ trung ƣơng đến các địa phƣơng nơi trƣờng hoạt động.Các trƣờng ĐHTT ở Việt Nam có mục đích vô cùng quan trọng và thiết thực là đào tạo NNL phục vụ cho công cuộc CNH-HĐH đất nƣớc. Vì vậy, việc tổng kết thực tiễn , tổ chức nghiên cứu khoa học để hoàn thiện chính sách đố i với loa ̣i trƣờng này đang là một yêu cầu tất yếu của cuộc sống. (5) Các trƣờng ĐHTT ở Việt Nam đã đóng góp một phần tích cực trong kết quả đào ta ̣o NNL có trình độ văn hóa , chuyên môn về khoa ho ̣c và công nghê ̣ (KH&CN), có tay nghề cơ bản cung cấ p cho các địa phƣơng, các vùng miền trong cả nƣớc. Đây là loại trƣờng đại học đƣợc xếp vào nhóm t hƣ́ ba theo phân tầ ng z chấ t lƣơ ̣ng của quy hoa ̣ch phát triể n giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c(GDĐH) Viê ̣t Nam giai đoa ̣n 2006-2020 (trường đại học cấ p quố c gia; trường đại học cấ p khu vực/cấ p ngành; trường đại học cấ p đi ̣a phương ).
Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận , có không ít các vấn đề đã và đang đặt ra với các trƣờng ĐHTT , loại trƣờng ĐH đào tạo đa cấp, đa ngành, đa liñ h vƣ̣c ta ̣i các tin̉ h/thành phố phải giải quyết. Các trƣờng này hiện đang đảm trách sứ mệnh đào tạo đacấ p, đa ngành, đa liñ h vƣ̣c, mề m dẻo, linh hoạt, gắn đào ta ̣o với sử dụng NNL, với nhu cầ u xã hô ̣i (XH) và nhu cầu của cô ̣ng đồ ng.thực hiện sứ mệnh đào ta ̣o NNL cho các địa phƣơng thông qua cơ chế liên kết với các doanh nghiệp và các đơn vị hành chính trên địa bàn, liên kết với các cơ sở dạy nghề, các trƣờng ĐH trong và ngoài nƣớc.Thực tiễn cho thấy, quá trình hoạt động, phầ n lớn loa ̣i trƣờng ĐHTT (các nhà khoa học gọi loại trƣờng này là trƣờng ĐH điạ phƣơng) chƣa thể hiện đúng với bản chất, sƣ́ mê ̣nh của loại trƣờng ĐH đa cấ p, đa ngành, tính cộng đồng của các trƣờng này chƣa rõ ne,́ t chƣa tạo sức hấp dẫn với cộng đồng, thiếu sự phối hợp với các cơ quan, các đoàn thể và thiếu sự chỉ đạo, sự tạo điều kiện nhiều mặt của chính quyền các địa phƣơng để tăng cƣờng đầu tƣ cơ sở vâ ̣t chấ t (CSVC), trang thiết bị phục vụ việc nâng cao chất lƣợng hoạt động của nhà trƣờng. Những ƣu điểm nổi trội của loại trƣờng ĐHTT hiện nay chƣa đƣợc thừa nhận rộng rãi trong xã hội, chƣa tác động tích cực đến các nhà quản lý giáo dục (QLGD), các nhà lãnh đạo có trách nhiệm hoạch định chính sách.ở tầm vĩ mô trong Quốc hội, Chính phủ, trong các bộ ngành trung ƣơng; sự phát triển mạng lƣới các cơ sở GD&ĐT còn thiếu quy hoạch và sự đầu tƣ ngân sách nhà nƣớc trong lĩnh vực này còn dàn trải và đặc biệt cho đế n nay vẫn chƣa có những giải pháp đồng bộ để đảm bảo và từng bƣớc nâng cao chất lƣợng .Trƣớc tình trạng đó, rất cần thiết phải có các chính sách vĩ mô để loại trƣờng ĐHTT ở Viê ̣t Nam phát triển, đảm bảo chất lƣợng cao trong đào ta.̣o (6) Trong hệ thống giáo du ̣c quốc dân của Việt Nam chƣa xác định rõ vị trí , sƣ́ mê ̣nh của loại trƣờng ĐHTT. Tình trạng đào ta ̣o không gắn với nhu cầu sử dụng NNL và hoàn cảnh của ngƣời học đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi.
Hầu hết lãnh đạo các địa phƣơng chƣa thể chủ động cân đối cung cầu NNL ở địa phƣơng mình.