Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội tại BHXH thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. 5 Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội tại BHXH thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. 6 CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ QUẢ LÝ CHI TRẢ LƯƠ G HƯU VÀ TRỢ CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.
Cơ sở lý luận về chi trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm, bản chất về chi trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội * Khái niệm về BHXH Hệ thống BHXH có được ra đời và phát triển dựa trên sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế”, đó là nhận định của các nhà kinh tế. Đối với quốc gia có nền kinh tế chậm phát triển, chất lượng sống người dân thấp, lạc hậu dẫn tới một hệ thống BHXH không thể bền vững được.
N hưng đối với quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh, kéo theo đó là sự phát triển của hệ thống BHXH, cụ thể là các chế độ BHXH cũng được mở rộng, đa dạng các hình thức BHXH để phù hợp xu thế phát triển chung của toàn xã hội. Chính vì vậy, Đảng và N hà nước ta đặc biệt chú trọng, quan tâm đến chính sách BHXH. Chính sách BHXH là sự chia sẻ rủi ro và hình thành nguồn quỹ nhằm bảo vệ, bù đắp thu nhập cho người lao động (N LĐ). Tại Khoản 1 điều 3 Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 đã chỉ rõ: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.[13] BHXH bao gồm: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.
Theo khoản 2, 3 điều 3 Luật BHXH đã chỉ ra khái niệm BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện như sau: “2. Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Ehà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia. Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Ehà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập 7 của mình và Ehà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất”.[13] * Khái niệm về chi lương hưu Quy luật sống của con người đều phải trải qua các quá trình: từ khi sinh ra - lớn lên - trưởng thành - già yếu - mất đi, đó là quy luật sống tự nhiên mà không ai có thể tránh được quy luật đó. Con người muốn tồn tại cần phải làm việc, lao động để tạo ra của cải, vật chất nhằm nuôi sống chính họ và gia đình của họ.
Tuy nhiên, con người khi lao động cần có sức, khả năng lao động để có cuộc sống ổn định, tích lũy khi về già. N hận thức được quy luật, giá trị cho cuộc sống, hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới thực hiện chế độ hưu trí với mục đích mang đến cho N LĐ có cuộc sống ổn định, mang lại giá trị vật chất tinh thần khi hết tuổi lao động góp phần ổn định kinh tế - chính trị của một quốc gia. Để hình thành chế độ hưu trí thì N LĐ và chủ sử dụng lao động (SDLĐ) đóng góp một tỷ lệ nhất định theo quy định của từng nước. Khoảng thời gian đóng góp số tiền này là rất dài gần như là suốt cuộc đời lao động của con người nhưng khi họ tham gia sẽ có các khoản trợ cấp khi gặp rủi ro và đến khi về già N LĐ sẽ nhận được khoản trợ cấp hàng tháng.
Khoản trợ cấp này phụ thuộc vào mức đóng và thời gian tham gia đóng mà N LĐ và chủ SDLĐ đóng góp để tính toán mức trợ cấp hợp lý. Chế độ hưu trí giúp N LĐ khi hết tuổi lao động đảm bảo cuộc sống và những nhu cầu tối thiểu của họ khi về hưu. N ước ta từ khi ra đời chính sách BHXH, Chính phủ không ngừng điều chỉnh mức lương hưu để phù hợp với mức sống chung của toàn xã hội. Chính sách tăng lương hưu đã đáp ứng với nhu cầu cuộc sống, tạo niềm tin, an tâm cho người thụ hưởng lương hưu.
Tại Điều 57 Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 đã quy định: “Chính phủ quy định việc điều chỉnh lương hưu trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế phù hợp với ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội”. [13] Theo N ghị quyết số 28-N Q/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về cải cách chính sách BHXH đã chỉ ra một trong những nội dung cải cách đó là: 8 “Thực hiện điều chỉnh trợ cấp hưu trí xã hội theo khả năng cân đối của ngân sách nhà nước; lương hưu cơ bản được điều chỉnh chủ yếu dựa trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng, khả năng của Quỹ bảo hiểm xã hội và ngân sách nhà nước; quan tâm điều chỉnh thỏa đáng đối với nhóm đối tượng có mức lương hưu thấp và nghỉ hưu trước năm 1995 nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu giữa người nghỉ hưu ở các thời kỳ”.[9] N hư vậy, “Chi lương hưu được hiểu là quá trình phân phối, sử dụng quỹ BHXH nhằm đảm bảo thu nhập cho người hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa”.[9] * Khái niệm về trợ cấp BHXH Trợ cấp BHXH là quá trình phân phối, sử dụng quỹ BHXH nhằm đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH [13] Trợ cấp BHXH gồm có 2 loại trợ cấp: - Trợ cấp ngắn hạn: bao gồm các khoản chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức. - Trợ cấp dài hạn: gồm lương hưu, các khoản trợ cấp hàng tháng. N hững trợ cấp, chế độ này được hưởng cho tới khi người hưởng bị chết.
N goài ra, còn có các loại trợ cấp: trợ cấp một lần, trợ cấp lần đầu khi nghỉ hưu, trợ cấp TN LĐ-BN N , mai táng phí … Một nội dung quan trọng trong công tác quản lý chi BHXH là xác định đúng mức hưởng trợ cấp BHXH, phân loại cho từng chế độ BHXH của từng nguồn kinh phí. Vấn đề đó có ý nghĩa quan trọng đối với người thụ hưởng BHXH và đối với việc quản lý quỹ BHXH… vì nếu xác định sai mức trợ cấp BHXH sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi của người thụ hưởng (nếu mức quá thấp), không có ý nghĩa “bù đắp thu nhập”, hoặc ảnh hưởng đến hoạt động của quỹ BHXH (nếu mức quá cao), có thể dẫn đến không cân đối được quỹ, gây ra vỡ quỹ BHXH. N guồn hình thành quỹ BHXH bao gồm: đóng góp của N LĐ, đơn vị SDLĐ, sự đóng góp hỗ trợ của N hà nước và thu từ các nguồn khác. Quản lý quỹ BHXH ổn định để có khả năng tài chính đảm bảo chi trả các chế độ, trợ cấp 9 BHXH cho N LĐ.
Giữa việc đóng và hưởng của từng N LĐ phải phù hợp với việc bình ổn Quỹ BHXH để có khả năng chi trả của cả hệ thống, trên cơ sở lấy số đông bù số ít. N hư vậy, mới đảm bảo cân đối nguồn quỹ BHXH. * Bản chất về chi trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội Thực chất BHXH là sự tổ chức “đền bù” hậu quả của những “rủi ro xã hội” hoặc các sự kiện bảo hiểm. Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH.
N hư vậy, BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập. Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP, được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết… Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện cả theo chiều dọc và chiều ngang. Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối của chính bản thân người lao động theo thời gian (nghĩa là sự phân phối lại thu nhập của quá trình làm việc và quá trình không làm việc). Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh cho người ốm đau, bệnh tật; giữa những người trẻ cho người già; giữa những người không sinh đẻ (nam giới) và người sinh đẻ (nữ giới); giữa những người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp… Để dễ hình dung có thể dùng “lát cắt ngang” vào một tập hợp những người đang và đã tham gia BHXH vào bất kỳ thời điểm nào vào bất kỳ “đoạn” nào của tập hợp ta đều có thể thấy được mối quan hệ của sự phân phối này.
Ở lát cắt này có cả người mới tham gia BHXH, người đang hưởng BHXH; người khỏe mạnh, người ốm đau; người già, người trẻ; người có thu nhập cao, người có thu nhập thấp… N ói cách khác, đây là sự phân phối lại thu nhập theo không gian. Về mặt xã hội, do có sự “san sẻ rủi ro” của BHXH, người lao động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra, ở đây BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít”. 10 Tuy nhiên, tính kinh tế và tính xã hội của BHXH không tách rời mà đan xen lẫn nhau. Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho người lao động và gia đình họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH, ngược lại, khi nói tới sự đóng góp ít nhưng lại đủ trang trải mọi rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH.