Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về quản lý nguồn thu theo Quỹ Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam. Chương 2: Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý nguồn thu theo Quỹ Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và kiến nghị tăng cường thực thi pháp luật về quản lý nguồn thu theo Quỹ Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Ninh. 6 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NGUỒN THU THEO QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM 1.
Một số vấn đề lý luận về Quỹ Bảo hiểm xã hội, nguồn thu theo Quỹ Bảo hiểm xã hội và quản lý nguồn thu theo Quỹ Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm và đặc điểm của Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm về Bảo hiểm xã hội BHXH là một hoạt động đã xuất hiện từ rất lâu. Trong quá trình phát triển, các chế độ BHXH và đối tượng BHXH ngày càng được mở rộng.
Theo đó, khái niệm BHXH cũng có nhiều thay đổi và ngày càng được hoàn chỉnh. Mặc dù vậy, cho đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về BHXH và cũng có rất nhiều khái niệm BHXH được đưa ra, cụ thể: Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra một định nghĩa về BHXH được chấp nhận rộng rãi nhất: BHXH là hình thức bảo trợ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua nhiều biện pháp công nhằm tránh tình trạng khốn khó về mặt kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm đáng kể thu nhập vì bệnh tật, thai sản, tai nạn lao động, mất sức lao động và tử vong; chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình có con nhỏ (ILO, 1984) Khái niệm BHXH này sau đó đã được các nhà làm luật của Việt Nam ghi nhận trong Luật BHXH của Việt Nam năm 2014. BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Khái niệm BHXH còn được ghi rõ trong Luật BHXH (được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII thông qua ngày 20/11/2014) như sau: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động 7 khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” (Luật BHXH, 2014).
Như vậy, BHXH được coi là quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được dồn tích từ sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, theo quy định của pháp luật, nhằm hỗ trợ cho việc giải quyết những nhu cầu sinh sống thiết yếu của người lao động và gia đình họ khi họ gặp những rủi ro dẫn đến việc giảm hoặc mất khả năng thanh toán từ thu nhập theo lao động. Đó là xét theo góc độ kinh tế. BHXH còn có thể xét dưới góc độ xã hội hay góc độ pháp lý. Dưới góc độ xã hội, BHXH được coi là sự liên kết của những người lao động xuất phát từ lợi ích chung của xã hội, của người lao động và người sử dụng lao động.
Khi tham gia quan hệ này, người lao động sẽ được hưởng một khoản trợ cấp nhất định nếu có những biến cố rủi ro, trên cơ sở sự đóng góp của các bên. Dưới góc độ pháp lý, BHXH được tiếp cận như trong Luật BHXH Việt Nam đã xác định. Nghiên cứu về BHXH, chúng ta có thể thấy có nhiều tác giả nước ngoài cũng đã đưa ra các định nghĩa khác về BHXH hoặc bảo trợ xã hội, áp dụng riêng cho các điều kiện ở các nước đang phát triển. Các tác giả này có chung một quan điểm là BHXH không chỉ dừng ở việc mất đột ngột thu nhập theo dự kiến mà còn tính đến cả việc ngăn chặn và giảm nghèo kinh niên và mang lại mức sống tối thiểu.
Cách tiếp cận BHXH mà mỗi nước lựa chọn còn tuỳ thuộc vào mục tiêu chính sách quốc gia và điều kiện cơ cấu cụ thể của nền kinh tế. Mặc dù khái niệm BHXH của Việt Nam được xác định trong từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam cũng tương tự khái niệm BHXH mà ILO đưa ra, nhưng thực tế trong quá trình thảo luận, xây dựng chính sách, cũng có nhiều định nghĩa BHXH khác do các tổ chức quốc tế và trong nước đưa ra, đề cập đến các mặt khác nhau của BHXH ở Việt Nam. Khái niệm BHXH được sử dụng trong toàn bộ nghiên cứu của luận văn này là 8 khái niệm BHXH đã được ghi trong Luật BHXH Việt Nam, được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014. Đặc điểm của Bảo hiểm xã hội Từ khái niệm về BHXH nêu tại Luật BHXH năm 2014, có thể thấy BHXH có những đặc điểm cơ bản như sau: - Một là, bảo hiểm cho NLĐ trong và sau quá trình lao động.
Nghĩa là, khi tham gia vào hệ thống BHXH, NLĐ sẽ được BHXH trợ cấp cho đến lúc chết. Khi còn làm việc, NLĐ được đảm bảo khi bị ốm đau, lao động nữ được trợ cấp thai sản khi sinh con, người bị tai nạn lao động được trợ cấp tai nạn lao động, khi không còn làm việc nữa thì được hưởng tiền hưu trí, khi chết thì được tiền chôn cất và gia đình được hưởng trợ cấp tuất… Đây là đặc điểm riêng của BHXH mà không một loại hình bảo hiểm nào có được. - Hai là, các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội của NLĐ trong BHXH liên quan đến thu nhập của họ. Bao gồm: Ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết… Do những sự kiện và rủi ro này mà người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc khả năng lao động không được sử dụng, dẫn đến họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập.
Vì vậy, người lao động cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống và sự bù đắp này được thông qua các trợ cấp BHXH. Đây là đặc điểm rất cơ bản của BHXH. - Ba là, NLĐ khi tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp BHXH. Tuy nhiên quyền này chỉ có thể trở thành hiện thực khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH.
NSDLĐ cũng phải có trách nhiệm đóng BHXH cho NLĐ. - Bốn là, sự đóng góp của các bên tham gia BHXH. Các bên tham gia phải đóng góp bao gồm NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước. Các nguồn đóng góp này hình thành cơ bản của quỹ bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra nguồn thu của quỹ bảo hiểm xã hội còn có được từ các nguồn khác như lợi nhuận từ đầu tư phần nhàn rỗi tương đối của quỹ bảo hiểm xã hội (mang tính an toàn); khoản nộp phạt của các doanh nghiệp, đơn vị chậm nộp BHXH theo quy định pháp luật và các nguồn thu hợp pháp khác. 9 - Năm là, các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ BHXH cũng do luật định. Vì vậy, Pháp luật về BHXH ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh từ BHXH trong đó có quan hệ phát sinh liên quan đến thu BHXH và Quản lý nguồn thu theo Quỹ bảo hiểm xã hội. Vai trò của Bảo hiểm xã hội Ra đời và phát triển cùng với nền kinh tế thị trường, BHXH đã có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới.
Trình độ phát triển của BHXH được quyết định bởi mức độ phát triển của nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển thì mức độ hoàn thiện của BHXH ngày càng cao và với những đặc trưng riêng của mình, BHXH đã có những vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội đó là: - Đối với người lao động Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang ngày càng hoàn thiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đoại hóa thì những “rủi ro” như ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việt làm…lại diễn ra một cách thường xuyên và ngày càng phổ biến hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây khó khăn cho người lao động về cả vật chất lẫn tinh thần, ảnh hưởng không tốt cho cả cộng đồng. Với vai trò là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những người lao động gặp phải rủi ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện thuận lợi…giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, tạo cho họ một niềm tin vào tương lai. Từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng như chất lượng công việc cho cơ quan, đơn vị, công ty, xí nghiệp nói riêng và cho toàn xã hội nói chung.
- Đối với Người sử dụng lao động Tham gia BHXH sẽ gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động…Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hòa và giải quyết. Đặc biệt, cả hai bộ phận này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có 10 lợi và được bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bọ lợi ích được với nhau.
Nhờ tạo được mối quan hệ gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp, người lao động yên tâm gắn bó với công việc, với nơi làm việc. Từ đó họ tích cực hoạt động sản xuất và phát huy sáng kiến kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Khi có rủi ro xảy ra, nhờ đã tham gia BHXH mà việc kinh doanh của doanh nghiệp vẫn diễn ra bình thường, ổn định tránh những xáo trộn không cần thiết.