CHƯƠNG 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LY LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LY CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI CÁC SỞ Y TẾ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Từ khi NSNN ra đời, vấn đề nghiên cứu quản lý NSNN nói chung, quản lý chỉ NSNN nói riêng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Vì vậy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu được tiếp cận ở những cấp độ, góc độ khác nhau, trong đó đáng chú ý có một số nhóm các công trình sau đây: Những công trình nghiên cứu về công tác quản lý NSNN: Tào Hữu Phùng và Nguyễn Công Nghiệp (1992), Đổi mới ngân sách nhà nước, Nhà xuất bản Thong kê Hà Nội.
Tác phẩm đã khái quát những nhận thức chung về NSNN, đánh giá những chính sách NSNN hiện hành và đề xuất giải pháp đổi mới NSNN dé sử dụng có hiệu quả trong tiến trình đổi mới nền kinh tế đất nước. Đến nay có những giải pháp đã được triển khai ứng dụng hiệu quả trong thực tế. Vũ Thu Giang (2000), Chính sách tài chính của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Nội dung cơ bản của tác phâm này đề cập tới những thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; Thực trạng chính sách tài chính của nước ta trong quá trình hội nhập; Những hạn chế của chính sách, những yêu cầu đặt ra với chính sách tài chính trong quá trình hội nhập; Những kiến nghị và giải pháp cải cách chính sách tài chính để Việt Nam tham gia hội nhập thành công.
Tác phẩm này phần nào làm rõ thêm về sự ảnh hưởng tới nguồn thu, nhu cau chi tiêu NSNN và công tác quản lý NSNN khi nước ta tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Đặng Văn Thanh (2005), Một số vấn đề về quản lý và điều hành ngân sách nhà nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung cuốn sách cung cấp kiến thức cơ bản về quản lý và điều hành NSNN. Đặng Văn Du và TS Bùi Tiến Hanh (2010), Giáo trình Quản lý chỉ ngân sách Nhà nước, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.
Nội dung cuốn sách cung cấp kiến thức cơ bản về quản lý chỉ NS Nhà nước. Những công trình nghiên cứu cụ thé về công tác dau tư và quản lý chỉ NSNN cho ngành Y tế: Nguyễn Thị Thanh Hương (2015), Tăng cường quản lý chỉ ngân sách nhà nước cho các cơ sở Kham chữa bệnh trên địa ban tinh Thai Binh, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. Luận văn đã trình bày một cách tổng quát về thực trạng công tác quản lý chi NSNN cho các cơ sở Khám chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2001 - 2006, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chỉ NSNN cho các cơ sở Khám chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn tiếp theo. Bộ Y tế (2009), Đề án Đổi mới cơ chế tài chính ngành Y tế giai đoạn 2009 - 2014.
Nội dung Đề án đã làm rõ hiện trạng, ưu điểm và hạn chế của cơ chế tài chính của ngành Y tế nước ta; Thu thập, tham khảo các chỉ số phát triển và tài chính cho ngành Y tế của các nước phát triển và các nước mới phát triển. Căn cứ vào yêu cầu phát triển Y tế phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn đây mạnh CNH-HĐH đến năm 2020, Đề án xác định các nội dung cần thiết đổi mới cơ chế tài chính ngành Y tế tới năm 2014. Bùi Thi Lan Hương (2016), Các giải pháp tài chính thúc day phát triển ngành Y tế trên đại bàn tỉnh Ninh Bình, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh doanh và công nghệ, Hà Nội. Luận văn đã trình bày một cách tổng quát về nganh Y tế và vai trò của Y tế đối với su phát triển kinh tế xã hội; Tài chính, vai trò của tải chính, cơ chê quản lý tài chính đôi với ngành Y tê.
Tông kết và đánh giá thực trạng của ngành Y tế „ những tác động tích cực và hạn chế của nguồn tai chính, công cụ tài chính, cơ chế quan lý tài chính đối với ngành Y tế trên địa bản tỉnh trong thời gian qua. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp tài chính thúc đây phát triển ngành Y tế trên địa bàn trong thời gian tới. Cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN tại các sở Y tế 1. Một số khái niệm cơ bản * Khái niệm về ngân sách nha nước: Có nhiều khái niệm về NSNN, tuy nhiên trong nghiên cứu nay tác giả sử dụng khái niệm được thể hiện trong Luật NSNN của Việt Nam năm 2015.
Theo đó,“Ngán sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được du toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyên quyết định dé bảo dam thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cua Nha nước” [Luật NSNN SỐ 83/2015/QH13, tr3 ]. Xét theo góc độ quản lý thì NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước hay bảng cân đối thu - chỉ chủ yếu của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm và được gọi là năm ngân sách). Tại hầu hết các nước trong đó có Việt Nam, năm ngân sách trùng với năm dương lịch, bắt đầu từ 01/01 kết thúc vào 31/12. Về bản chất của NSNN, dang sau những con số thu, chi đó là các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thé khác phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nha nước.
Đối tượng phân phối dé tạo lập nguồn thu cho NSNN là giá trị của cải xã hội. Mục đích phân phối, sử dụng nguồn vốn NSNN là đáp ứng cho các nhu cầu gắn liền với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời gian cụ thể. [Bộ tài chính (2003), 7hông tu số 59/2003/TT-BTC hướng dan thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dan thi hành Luật NSNN; | Vì vậy, nghiệp vụ chủ yếu của NSNN là thu - chi nhưng không đơn thuần là việc tăng giảm số lượng tiền tệ mà còn phản ánh quan hệ kinh tế - tài chính giữa Nhà nước với các tác nhân khác nhau của nền kinh tế trong quá trình phân bổ các nguồn lực và phân phối thu nhập mới được tạo ra. Các quan hệ kinh tế thuộc phạm trù ngân sách bao gồm: (1) quan hệ giữa Nhà nước với các tô chức kinh tế (doanh nghiệp); (2) quan hệ giữa nhà nước với các cơ quan chức năng của Nhà nước (các cơ quan quản lý hành chính sự nghiệp hay các lĩnh vực không sản xuất vật chất); (3) quan hệ giữa ngân sách với các tầng lớp dân cư; (4) quan hệ giữa Nhà nước với các định chế tài chính quốc tế với các Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ.
Những quan hệ nói trên thé hiện rõ nội dung KT-XH của NSNN, nhìn trên góc độ NSNN là phạm trù kinh tế vừa là công cụ kinh tế trọng yếu của Nhà nước. * Quản lý, Quan lý chi ngân sách nhà nước, Quản lý chi NSNN - Quản ly chi NSNN là quá trình vận dụng các chính sách của Dang va luật pháp của nhà nước trong quản lý kinh tế, đồng thời sử dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tác động đến quá trình sử dung các nguồn vốn của NSNN để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do nhà nước đảm nhiệm một cách có hiệu quả nhất. - Đối tượng tác động của quan lý chi NSNN là toàn bộ các khoản chi của NSNN được bố trí để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Tác động của quản lý chi NSNN mang tính tổng hợp, hệ thống gồm nhiều biện pháp khác nhau, được thé hiện dưới dạng cơ chế quản lý.
Cơ sở của quản lý chi NSNN là sự vận dụng các quy luật kinh tế xã hội phù hợp với thực tiễn khách quan. - Chủ thé quản lý chi NSNN là các cơ quan có thẩm quyền về quản lý chỉ NSNN ở trung ương và địa phương, bao gồm Quốc hội, Chính Phủ, Bộ Tài Chính, UBND các cấp; Cơ quan tài chính, Kho bạc nhà nước và các đơn vị sử dụng NSNN: + Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, là chủ thể duy nhất có quyền quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN; quyết định tong dự toán và tổng quyết toán NSNN; quyết định bổ sung, điều chỉnh chi NSNN giữa các nhiệm kì, ké cả tổng mức chi đối với những công trình lớn, đặc biệt quan trọng của quốc gia. + Chi NSNN được phân cấp cho chính quyền địa phương quản lý và điều hành. Ở Trung Ương do Chính Phủ trực tiếp quản lý, ở các cấp chính quyền địa phương do Uy Ban Nhân Dân quan lý dưới sự giám sát của Hội Đồng Nhân Dân.
+ Cơ quan tài chính (Bộ Tài chính, Sở Tài Chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Phòng Tài chính - Kế hoạch quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh): Tham tra việc phân bô dự toán ngân sách cho các đơn vi sử dung; Bồ trí nguồn để đáp ứng các nhu cầu chi, trường hợp các đơn vị sử dụng ngân sách chi vượt quá khả năng thu và huy động của quỹ ngân sách thì cơ quan tài chính phải chủ động thực hiện các biện pháp vay tạm thời theo quy định để bảo đảm nguồn; Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu và sử dụng ngân sách ở các cơ quan, đơn vi sử dụng ngân sách. + Kho bac Nhà nước: Thực hiện việc thanh toán, chi trả các khoản chi NSNN căn cứ vao dự toán được giao, quyết định chi của thủ trưởng đơn vi sử dụng NSNN và tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết khác theo quy định của Chính phủ; Có quyên từ chối các khoản chi ngân sách không đủ điều kiện chi theo quy định hoặc tạm dừng thanh toán theo yêu cầu của cơ quan tài chính; Thủ trưởng cơ quan KBNN chịu trách nhiệm về các quyết định thanh toán, chi ngân sách hoặc từ chối thanh toán chi ngân sách.