phần mở đầu và kết luận, các danh mục có liên quan nội dung chính của Luận văn đƣợc cấu trúc thành 03 chƣơng với tên gọi nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi thƣờng xuyên NSNN cấp huyện Chƣơng 2. Thực trạng công tác quản lý chi thƣờng xuyên NSNN huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thƣờng xuyên NSNN huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum trong thời gian tới.
11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. K á n ệm, đặ đ ểm, v trò ủ n ân sá n à nƣớ a. Khái niệm “Ngân sách nhà nƣớc (ngôn ngữ kinh tế học gọi là chính sách tài khoá) là việc chính phủ sử dụng thuế khóa và chi tiêu công cộng để điều tiết mức chi tiêu chung của nền kinh tế” [14].
Theo Luật NSNN năm 2015. “Ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đƣợc dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Thu ngân sách nhà nƣớc bao gồm: Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nƣớc thực hiện, trƣờng hợp đƣợc khoán chi phí hoạt động thì đƣợc khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nƣớc thực hiện nộp ngân sách nhà nƣớc theo quy định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nƣớc, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nƣớc cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phƣơng; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi ngân sách nhà nƣớc bao gồm: Chi đầu tƣ phát triển; chi dự trữ quốc gia; chi thƣờng xuyên; chi trả nợ lãi; chi viện trợ; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Ngân sách nhà nƣớc gồm ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa 12 phƣơng” [14]. Đặc điểm - Luôn gắn chặt với sở hữu nhà nƣớc và chứa đựng những lợi ích chung và công. - Là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc, đƣợc chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới đƣợc chi dùng cho những mục đích đã định. - “Luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nƣớc, đƣợc tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.
Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nƣớc có thể sử dụng các công cụ sẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết. Song các chủ thể sản xuất - kinh doanh, các thành viên trong xã hội thì luôn đấu tranh để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình. Nghĩa là, Nhà nƣớc không thể dựa vào quyền lực của mình để huy động sự đóng góp của xã hội dƣới bất kỳ hình thức nào, bằng mọi giá phải có giới hạn hợp lý, đó chính là việc giải quyết hài hoà lợi ích kinh tế Nhà nƣớc và xã hội” [16]. - “Là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính thông qua thu và chi NSNN.
Việc phân phối và phân phối lại các nguồn lực tài chính để hình thành nguồn thu của Nhà nƣớc, dù thực hiện dƣới hình thức nào, thực chất cũng là quá trình giải quyết lợi ích kinh tế giữa Nhà nƣớc và xã hội. Phân phối nguồn lực tài chính là kết quả tài chính của các đơn vị kinh tế đƣợc chia thành hai phần, phần nộp cho NSNN và phần đe lại cho các thành viên của đơn vị. Thông qua phần nộp NSNN, Nhà nƣớc tiếp tục phân phối lại qua các khoản cấp phát ngân sách cho mục đích tiêu dùng và đầu tƣ. Do vậy có thể thấy rằng, mối quan hệ kinh tế - xã hội của NSNN là quan hệ ở phạm vi rộng lớn liên quan đến mọi khu vực của nền kinh tế quốc dân” [13].
Vai trò Vai trò của NSNN đƣợc xác định trên cơ sở các chức năng và nhiệm vụ cụ thế của nó trong từng giai đoạn. Theo yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc thì vai trò NSNN cũng đƣợc thế hiện khác nhau tùy theo từng thời kỳ phát triến kinh tế và cơ chế quản lý tƣơng ứng với từng thời kỳ đó. Vì vậy, vai trò của NSNN là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính, là công cụ quan trọng đế Nhà nƣớc thực hiện điều hành vĩ mô và toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội. Trong nền kinh tế thị trƣờng vai trò của NSNN đƣợc thay đổi và trở nên hết sức quan trọng.
Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc gia Ngân sách nhà nƣớc có các vai trò nhƣ sau: - Huy động nguồn tài chính đế đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc, đồng thời NSNN thực hiện cân đối giữa các khoản thu và các khoản chi (bằng tiền) của Nhà nƣớc. Đây là vai trò lịch sử của NSNN mà bất cứ cơ chế kinh tế nào, hình thái kinh tế - xã hội nào cũng phải thực hiện. - Điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội: Trong thời kỳ kinh tế thị trƣờng thì sản xuất hàng hóa mang tính phổ biến và là nền kinh tế mà mọi quan hệ kinh tế - xã hội cơ bản đƣợc giải quyết thông qua thị trƣờng. Tuy nhiên, kinh tế thị trƣờng với mặt trái là những khuyết tật cần đƣợc khắc phục.
Chính vì vậy, sự can thiệp của Nhà nƣớc vào nền kinh tế thị trƣờng là tất yếu khách quan. - Điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông qua các hoạt động thu, chi: “Thông qua các sắc thuế, là công cụ của NSNN và là nguồn thu chủ yếu của NSNN, có tác dụng để khuyến khích, mở rộng sản xuất. Những mặt hàng sản xuất trong nƣớc, hàng xuất khẩu cần khuyến khích và tạo điều kiện cho cạnh tranh với hàng hóa trong khu vực và trên thế giới, nhất là hiện nay trong điều kiện toàn cầu hóa, Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO) với những thời cơ và thách thức mới; cho nên cần phải có chính sách động viên NSNN hợp lý. chính vì thế, thông qua chính sách thuế, không chỉ 14 tập trung nguồn thu cho NSNN mà còn góp phần thực hiện vai trò định hƣớng đầu tƣ, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế phát triển theo hƣớng tích cực, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.
Ngoài công cụ thuế còn có khoản thu từ nguồn vay nợ trong nƣớc và ngoài nƣớc sẽ tạo thêm nguồn vốn cho NSNN, vấn đề là việc sử dụng nguồn vốn vay sao cho đúng hƣớng, có chế độ quản lý hợp lý để có hiệu quả. Nếu không sử dụng tốt thì đây là khoản nợ lớn của ngân sách, càng làm cho ngân sách khó khăn bởi gánh nợ chi trả. Thông qua chi đầu tƣ của NSNN cho xây dựng kết cấu hạ tầng nhƣ xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, điện, nƣớc, bƣu điện. đã tạo đƣợc môi trƣờng kết cấu hạ tầng thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh.
Ngân sách còn dành vốn đầu tƣ để hình thành các doanh nghiệp then chốt, mũi nhọn có tác dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và vùng, lãnh thổ, cuối cùng tác động đến tăng trƣởng kinh tế và là một biện pháp để chống độc quyền, thực hiện các chính sách ƣu đãi thuế đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở miền núi, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp công ích đã tạo điều kiện hỗ trợ cho sự phát triển doanh nghiệp và góp phần điều chỉnh hoạt động kinh tế - xã hội giữa các vùng đảm bảo hợp lý hơn” [16]. - “Đảm bảo công bằng xã hội: Vai trò quan trọng nhất của NSNN về mặt xã hội là từ nguồn thu huy động đƣợc, NSNN chi đầu tƣ và phân phối thông qua dự toán chi NSNN cho các ngành và mọi lĩnh vực xã hội, đảm bảo cho Nhà nƣớc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình. NSNN chi phối toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội từ tiêu dùng, thu nhập cho đến các vấn đề kinh tế, xã hội; quan hệ chi tiêu liên quan đến mọi lĩnh vực nhƣ chi cho hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc, an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, chi cho giáo dục, y tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ cho các đối tƣợng chính sách và chi cho nhiệm vụ xã hội khác. Những khoản 15 chi này của NSNN thƣờng đƣợc gom thành hai nhóm; chi thƣờng xuyên để duy trì bộ máy Nhà nƣớc và chi phục vụ cho đầu tƣ phát triển.
Quan hệ chi tiêu NSNN tỷ lệ tƣơng quan giữa các nhóm, giữa các khoản mục chi tiêu, tốc độ tăng, giảm chi theo thứ tự ƣu tiên cấp phát,. không những chỉ phản ánh vấn đề có quan hệ kinh tế quan trọng mà còn có ý nghĩa giai cấp, dân tộc và các vấn đề chính trị, xã hội. - Ổn định giá cả thị trƣờng và chống lạm phát. Bằng các công cụ thu và các chính sách chi ngân sách, Nhà nƣớc có thể điều chỉnh giá cả thị trƣờng một cách chủ động.
Mối quan hệ giữa giá cả, thuế và dự trữ Nhà nƣớc có ảnh hƣởng sâu sắc tới tình hình thị trƣờng. Quản lý nhà nƣớc về thị trƣờng, Nhà nƣớc tác động vĩ mô thông qua các chính sách để định hƣớng, tạo hành lang cho thị trƣờng hàng hóa phát triển mạnh và ổn định. Trong trƣờng hợp thị trƣờng có biến động mạnh về giá cả, để đảm bảo quyền lợi cho ngƣời tiêu dùng Nhà nƣớc sử dụng nguồn dự trữ hàng hóa và tài chính để ổn định, điều hòa quan hệ cung - cầu, bình ổn sản xuất kinh doanh. Nguồn dự trữ này hình thành từ kinh phí cấp phát của NSNN” [5].
Quản lý t ƣờn xuyên NSNN a. Khái niệm “Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh” [14].