CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách nhà nước 1. Ngân sách nhà nước a. Khái niệm NSNN là một phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sự hình thành và phát triển của nhà nước và của hàng hóa, tiền tệ.
Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện duy trì và phát triển xã hội thường quy định các khoản thu mang tính bắt buộc các đối tượng trong xã hội phải đóng góp để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy nhà nước, quân đội, cảnh sát, giáo dục. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của các chế độ xã hội, nhiều khái niệm về NSNN đã được đề cập theo các góc độ khác nhau. NSNN phản ánh các mối quan hệ kinh tế giữa một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể khác trong xã hội. Các quan hệ kinh tế này phát sinh trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của mình.
Luật ngân sách nhà nước 2015 được điều chỉnh bổ sung năm 2020 qui định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước" [Quốc hội, 2015. Luật NSNN số 83/2015/QH13. Hà Nội] Ngân sách nhà nước được thực hiện trong một năm để đảm bảo các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước được gọi là Năm ngân sách. Năm ngân sách là khoảng thời gian khép kín một chu kì ngân sách do pháp luật quy định để thực hiện dự toán ngân sách nhà nước của một quốc gia.
Năm ngân sách nhà nước còn gọi là tài khóa quốc gia. Ở Việt Nam, năm ngân sách bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 năm dương lịch. Hệ thống ngân sách nhà nước Hệ thống NSNN được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách. Ở nước ta, tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy nhà nước.
Do vậy mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng cung cấp phương tiện vật chất cho cấp chính quyền đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ. Do đó hệ thống NSNN bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân. Hệ thống quản lý NSNN ở Việt Nam Nguồn: Luật NSNN 2015 Nguồn ngân sách của Trung ương: Đây được xem là các khoản thu mà NSNN phân cấp cho các cơ quan Trung ương hưởng và một số khoản chi trong NSNN thuộc trong khối nhiệm vụ chi của các cấp Trung ương.
Ngân sách Trung ương sẽ bao gồm các đơn vị thuộc dự toán của cơ quan Trung ương bao gồm các bộ, các cơ quan ngang bộ, các tổ chức xã hội thuộc Trung ương, cũng như các cơ quan trực thuộc chính phủ và các tổ chức đoàn thể thuộc Trung ương đứng ra dự toán. 7 Nguồn ngân sách địa phương: Đây được xem là các khoản thu mà được NSNN đứng ra phân cấp cho các cấp tại địa phương thu bổ sung từ ngân sách Trung ương, hưởng và một số các khoản chi NSNN mà thuộc trong phạm vi chi của cấp địa phương. Trong đó lại được chia thành: Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh) bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện) bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn.
Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách xã) [Quốc hội, 2015. Luật NSNN số 83/2015/QH13. Hà Nội] Ngân sách cấp huyện là một bộ phận cấu thành của ngân sách tỉnh, được hình thành trên cơ sở các nguồn thu đã được phân cấp cho huyện quản lý và được sử dụng để đảm bảo nhu cầu chi thực hiện nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện. Ngân sách cấp huyện là ngân sách của chính quyền cơ sở do Uỷ ban nhân dân Huyện xây dựng, quản lý và sử dụng; do Hội đồng nhân dân huyện quyết định và giám sát quá trình tổ chức thực hiện.
Ngân sách huyện được xây dựng trên cơ sở các nguồn thu của huyện được phân cấp (kể cả nguồn trợ cấp của ngân sách cấp trên) và chỉ thực hiện các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của chính quyền theo quy định. Như vậy, bản chất của ngân sách huyện là phạm trù lịch sử phản ánh hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và nhân dân trong quá trình Nhà nước khai thác, huy động và sử dụng các nguồn lực nhằm đảm bảo sự duy trì và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước ở cấp chính quyền cơ sở 1. Vai trò của Ngân sách Nhà nước Cùng với sự vận động của quá trình đổi mới kinh tế, vai trò của NSNN cũng có những biến chuyển rõ rệt và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, thể hiện qua các nội dung cụ thể: 8 Thứ nhất, Huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Với vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của NSNN, để đảm bảo cho mọi hoạt động của Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có những nguồn tài chính nhất định.
Những nguồn tài chính này được hình thành từ các khoản tiền thu thuế và các khoản thu ngoài thuế. Tuy nhiên, mức động viên nguồn tài chính từ các chủ thể kinh tế đòi hỏi phải hợp lý bởi nếu mức động viên quá cao hay thấp đều sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Do vậy cần phải xác định được mức huy động vào NSNN một cách phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế. Thứ hai, NSNN là công cụ điều tiết thị trường, chống lạm phát và bình ổn giá.
Đặc điểm lớn của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh nhằm đạt được lợi nhuận tối đa. Các yếu tố cơ bản của thị trường là giá cả và cung cầu thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường. Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp cả về phương diện ngành và phương diện lãnh thổ, tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế. Do đó, để đảm bảo lợi ích cho các doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng, Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu, dự trữ tài chính quốc gia.
Đồng thời, thực hiện điều tiết thị trường thông qua Ngân hàng Nhà nước với những chính sách tiền tệ thích hợp như: phát hành trái phiếu Chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, giảm mức chi tiêu của Chính phủ… qua đó góp phần kiểm soát lạm phát. Thứ ba, NSNN là công cụ định hướng phát triển sản xuất. Chính phủ hướng hoạt động của các chủ thể ở trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo đã được hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, và tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững. Thông qua hoạt động chi ngân sách nhà nước, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng, hình thành các doanh 9 nghiệp thuộc ngành kinh tế mũi nhọn (điện lực, viễn thông, khai thác khoáng sản, hàng không, đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp), trên cơ sở đó tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Trong các điều kiện cụ thể, Nhà nước sử dụng ngân sách để hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế, đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển các ngành mũi nhọn… Nhà nước cũng có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý. Thứ tư, NSNN là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng mạnh mẽ buộc Nhà nước cần phải chính sách phân phối lại thu nhập một cách hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Các chính sách như triển khai thuế thu nhập đặc biệt, thuế thu nhập cá nhân… một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao.
Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi từ NSNN như chi trợ cấp, chi phúc lợi xã hội như: phòng chống và hỗ trợ thiên tai, dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình, các chính sách đối với người có công, gia đình chính sách… là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp. Như vậy, để đạt được những mục đích về kinh tế và xã hội đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước. Nhà nước phải vận dụng các công cụ tài chính, tiền tệ để tác động đến mọi mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội. Trong các công cụ đó thì thu NSNN được coi là công cụ quan trọng, chiếm một vị trí không nhỏ góp phần làm ổn định nền tài chính, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp đề ra.
Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội, phát sinh trong quá trình nhà nước huy động, phân 10 phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước về mọi mặt. Thực ra, thu NSNN là quá trình mà Nhà nước dùng quyền lực của mình để phân phối một phần của cải xã hội dưới hình thức tiền tệ, hình thành ra quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước.