CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA TÀI CHÍNH NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về ngân sách nhà nước cấp huyện và công tác thanh tra tài chính ngân sách cấp huyện 1. Ngân sách nhà nước cấp huyện 1. Khái niệm NSNN cấp huyện Chính quyền cấp huyện có rất nhiều nhiệm vụ thuộc các lĩnh vực khác nhau: Kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội và đời sống, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội, thi hành pháp luật, kế hoạch, ngân sách, tài chính, nông nghiệp, giao thông, thương mại, dịch vụ, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo…Để thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ đó, chính quyền cấp huyện phải có phương tiện tài chính đủ mạnh.
Luật NSNN đã quy định cụ thể về các khoàn thu, chi cho ngân sách cấp huyện. NSNN cấp huyện là một bộ phận của NSNN được quản lý thống nhất theo chính sách, cơ chế quản về NSNN, vừa là kế hoạch tài chính, vừa là quỹ tiền tệ của huyện được hình thành từ các nguồn thu và các khoản chi phân giao nhiệm vụ của huyện. Chính vì vậy, ta có thể hiểu ngân sách huyện như sau: Xét về mặt hình thức: Ngân sách huyện là toàn bộ các khoản thu, chi được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do HĐND cấp huyện quyết định đề đảm bảo nguồn tài chính cho chính quyền nhà nước cấp huyện trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của huyện. Xét về mặt bản chất: Ngân sách huyện là những quan hệ kinh tế phát sinh giữa chính quyền cấp huyện với các chủ thể khác trong quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm tạo lập và sử dụng quỹ ngân sách cấp huyện nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của chính quyền nhà nước cấp huyện.
6 * Đặc điểm của ngân sách cấp huyện: Ngân sách cấp huyện là một cấp ngân sách trong hệ thống NSNN, vì vậy nó có đầy đủ những đặc điểm chung của NSNN (Nguyễn Văn Hiệp, 2019) : - Ngân sách cấp huyện được phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo quy định của pháp luật, đồng thời luôn chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước cấp huyện. - Ngân sách cấp huyện được quản lý và điều hành theo dự toán và chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định. - Hoạt động của ngân sách huyện luôn gắn với hoạt động của chính quyền nhà nước cấp huyện. - Phần lớn các khoản thu, chi của ngân sách huyện được thực hiện theo phương thức phân phối lại và không hoàn trả trực tiếp.
Vai trò của NSNN cấp huyện Một là, NSNN cấp huyện là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng nhà nước ở địa phương Sự hoạt động của chính quyền địa phương trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có quỹ tài chính tập trung để phục vụ nhu cầu chi tiêu cho những mục đích xác định, quỹ tài chính tập trung đó chính là ngân sách cấp huyện. Mặc dù không lớn như ngân sách Trung ương, nhưng ngân sách huyện đã thể hiện vai trò nhất định trong việc thực hiện chức năng Nhà nước tại địa phương. Trong các chức năng của Nhà nước, chức năng đảm bảo quốc phòng – an ninh đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là công cụ quyền lực của Nhà nước nhằm bảo vệ ý chí của Nhà nước, tạo môi trường chính trị bền vững, an toàn để huyện phát triển về mọi mặt trong cả mặt kinh tế lẫn xã hội.
Hai là, NSNN cấp huyện là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội tại địa phương 7 Vai trò này xuất hiện trước nhu cầu cần khắc phục những khuyết điểm của kinh tế thị trường, giúp cho nền kinh tế phát triển cân đối và hợp lý. Nhà nước thực hiện vai trò này trong hoạt động thu chi NSNN, cụ thể trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội như sau: - Về mặt kinh tế: NSNN cấp huyện có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Thông qua các khoản chi kinh tế và chi cho các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế; đồng thời chính quyền cấp huyện có thể tạo điều kiện và hướng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào những lĩnh vực, những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, ưu tiên những ngành mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên thị trường [11]. - Về mặt xã hội: Đầu tư của NSNN để thực hiện các chính sách xã hội: Giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, chi đảm bảo xã hội nhằm giúp đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao hơn.
Việc đầu tư này nhằm khắc phục và bù đắp khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường như thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, ô nhiễm môi trường…( Nguyễn Văn Hiệp, 2019). Nội dung ngân sách nhà nước cấp huyện Theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015: NSNN cấp huyện là mắt xích trong hệ thống NSNN gồm 2 nội dung chủ yếu về thu và chi ngân sách huyện như sau: * Nguồn thu của ngân sách huyện Thu ngân sách nhà nước cấp huyện là quá trình tạo lập, hình thành ngân sách huyện. Nguồn thu ngân sách cấp huyêṇ bao gồm những khoản thu của ngân sách điạ phương được HĐND tỉnh quy định trên cơ sở Luật NSNN. - Nguồn thu của ngân sách huyện gồm: + Các khoản thu ngân sách huyện hưởng 100%: Thuế nhà, đất; thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ dầu khí; thuế môn bài; thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp; tiền sử dụng đất; tiền cho 8 thuê đất; tiền cho thuê và bán nhà thuộc sở hữu nhà nước; lệ phí trước bạ; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; thu từ vốn góp của NSĐP, tiền thu hồi vốn của NSĐP tại cơ ở kinh tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh theo qui định; viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương theo qui định của pháp luật; Các khoản phí, lệ phí thu từ các hoạt động sự nghiệp và các khoản thu khác nộp vào ngân sách huyện theo qui định; thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác; huy động từ các tổ chức, cá nhân theo qui định; đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước; thu kết dư ngân sách huyện; các khoản thu khác theo qui định.
+ Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách huyện. + Thu bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh. * Nhiệm vụ chi của ngân sách huyện: Chi ngân sách huyện là việc nhà nước cấp huyện phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của ngân sách cấp huyện. + Chi đầu tư phát triển: Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do huyện quản lý; đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo qui định; phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình quốc gia do huyện thực hiện; các khoản chi đầu tư phát triển khác theo qui định của pháp luật (Quốc hội, 2015).
+ Chi thường xuyên: Hoạt động sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế thực hiện theo phân cấp của tỉnh; Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, xã hội và các hoạt động xã hội khác do cơ quan cấp huyện quản lý; Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan cấp huyện quản lý như: Nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp thủy lợi; giao thông; sự nghiệp hành chính; các sự nghiệp kinh tế khác; quốc phòng, an ninh trật tự và an toàn xã hội; Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở cấp huyện; 9 Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân Việt Nam ở cấp huyện; Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở huyện theo qui định của pháp luật; Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do huyện quản lý; Các khoản chi thường xuyên khác theo qui định của pháp luật (Vũ Thị Hậu &Vũ Thị Loan, 2016). + Chi bổ sung cho ngân sách xã. + Chi chuyển nguồn từ ngân sách huyện năm trước sang ngân sách huyện năm sau. Thanh tra tài chính ngân sách cấp huyện 1.
Khái niệm thanh tra tài chính Thanh tra (tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định. Theo Từ điển pháp luật Anh - Việt, thanh tra “là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”. Theo Từ điển tiếng Việt (1994) nêu rõ “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”.
Theo Phạm Ngọc Ánh (2009) nhà : “Thanh tra là hoạt động kiểm tra của tổ chức thanh tra nhà nước đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, chấn chỉnh những sai lầm, xử lý những vi phạm trong các hoạt động kinh tế xã hội giúp cho bộ máy quản lý vận hành tốt” [13]. Theo Luật Thanh tra (2022): “Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hoạt động thanh tra bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành” [16].