phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng/hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo, đề án được kết cấu 3 phần; cụ thể: Phần 1. Cơ sở xây dựng đề án Phần 2. Nội dung đề án Phần 3. Các đề xuất và kiến nghị 5 PHẦN 1.
CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Ngân sách nhà nước NSNN là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội của mọi quốc gia. Sự ra đời của NSNN gắn liền với quá trình hình thành nhà nước và phát triển kinh tế hàng hóa - tiền tệ.
Đây là một công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế, điều tiết giá cả thị trường, chống lạm phát và chú trọng thu nhập dân cư thực hiện công bằng xã hội. Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về NSNN. NSNN được hiểu: - Là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Quan niệm này đúng về mặt hình thức, đã mô tả mặt thực thể vật chất của NSNN; tuy nhiên chưa thể hiện được vị trí của NSNN.
- Là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước. Quan niệm này đã mô tả mặt cụ thể, mặt vật chất của NSNN đồng thời thể hiện vị trí của NSNN so với các quỹ tiền tệ khác. Tuy nhiên, quan này này cũng chưa thể hiện được nội dung kinh tế xã hội của NSNN. - là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau.
Quan điểm này đã nêu bật được ngân sách chứa đựng các quan hệ kinh tế, tuy nhiên lại không nói lên được thực thể vật chất NSNN là gì. Luật NSNN 2015, tại Khoản 14 Điều 4 định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. Dương Đăng Chinh (2009) trong giáo trình Quản lý tài chính công cho rằng “NSNN là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. NSNN phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định”.
Theo Tào Hữu Phùng và Nguyễn Công Nghiệp (2006), “NSNN là dự toán (kế 6 hoạch) thu – chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (phổ biến là một năm)”. Từ những khái niệm trên, trong đề án, khái niệm NSNN được hiểu là bản dự toán thu - chi tài chính tổng hợp của Nhà nước, phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Chi ngân sách nhà nước Theo Bùi Tiến Hanh (2018), chi NSNN là việc nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm bảo đảm điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống KT-XH dựa trên các nguyên tắc nhất định. Chi NSNN có những đặc điểm chính sau: - Chi NSNN gắn liền với nhiệm vụ phát triển KT-XH, chính trị của quốc gia.
Nhà nước sử dụng NSNN cho những mục đích khác nhau như xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, bệnh viện, trường học, phục vụ nghiên cứu…nhằm đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng trên lãnh thổ quốc gia đó. - NSNN là công cụ quản lý nhà nước do đó việc chi NSNN sẽ gắn với quyền lực của nhà nước. Theo đó, quốc hội sẽ quyết định đến nội dung, quy mô, cơ cấu và phân bổ việc chi NSNN cho những mục tiêu mà nhà nước đặt ra. - Chi NSNN thường được xem xét trên tầm vĩ mô và mang lại hiệu quả toàn diện về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…của một quốc gia.
- Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả hay không hoàn trả trực tiếp. Hằng năm, nhà nước sẽ tiến hành lập dự toán chi NSNN dựa trên số thu NSNN. Số NSNN được sử dụng cho lợi ích công cộng, trong trường hợp người dân có những vấn đề khó khăn ví dụ như ảnh hưởng từ đại dịch covid 19, nhà nước sẽ sử dụng NSNN để từ thiện, hỗ trợ, bao gồm cả những người đã tham gia vào nghĩa vụ đóng thuế. Quản lý chi ngân sách nhà nước Quản lý chi NSNN là quá trình thực hiện một cách có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của nhà nước.
Trong quá trình quản lý NSNN, chủ thể quản lý chính là nhà nước. Theo đó nhà nước sẽ tiến hành phân công, phân cấp nhiệm vụ cho những đối tượng trong bộ máy tổ chức để sử dụng quỹ ngân sách với những mục đích khác nhau dựa trên nội dung hoạt động. Những đối tượng này bao gồm cục, bộ, ban, ngành, địa phương… Khách thể quản lý chi NSNN là toàn bộ quá trình phân phối và sử dụng quỹ 7 NSNN bao gồm toàn bộ các nội dung trong quy trình NSNN và các mối quan hệ giữa các bộ phận trong quy trình NSNN. Quá trình quản lý chi NSNN chính là sự liên kết hữu cơ giữa Nhà nước và các đối tượng quản lý và đối tượng chịu tác động là toàn bộ các khoản chi của NSNN.
Mục tiêu của quản lý chi NSNN hướng đến là: - Đảm bảo việc sử dụng vốn NSNN đúng với mục đích đề ra. Mỗi phần ngân sách được phân bổ cho những mục đích phát triển đất nước khác nhau phù thuộc vào quy mô, lĩnh vực và thời gian…Thông qua công tác quản lý, nhà nước đảm bảo tính chính xác về nội dung từ đó hạn chế những nhầm lẫn trong quá trình sử dụng ngân sách. - Nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi NSNN: Theo đó việc quản lý chi NSNN phải đảm bảo tiết kiệm, phù hợp và sát với kế hoạch đặt ra. Đồng thời đảm bảo việc sử dụng ngân sách mang lại lợi ích mà cộng đồng mong muốn.
- Hạn chế rủi ro trong quá trình chi NSNN và nâng cao ý thức của các cán bộ quản lý. Việc chi NSNN sẽ không tránh khỏi những sai sót xuất phát từ nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nhà nước thông qua thanh, kiểm tra sẽ phát hiện và xử lý những sai phạm từ đó tạo ra tính răn đe và ý thức chấp hành kỷ luật cho các cán bộ quản lý nhà nước. Nguyên tắc, nội dung và phân cấp quản lý chi ngân sách nhà nước của địa phương cấp huyện 1.
Nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước của địa phương cấp huyện Quản lý chi NSNN có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, cần tuân thủ các nguyên tắc sau: - Tập trung, thống nhất: Mọi hoạt động phát triển KT-XH được thực hiện dưới sự quản lý của Đảng và nhà nước. Nguyên tắc này thể hiện rõ vai trò của nhà nước và đảm bảo quá trình thực hiện bám sát mục tiêu phát triển của quốc gia. Nhà nước sẽ ban hành các chính sách, pháp luật về chi NSNN dựa trên tình hình kinh tế, chính trị…và mỗi đơn vị thực hiện đều dựa quy định mà nhà nước ban hành.
- Đầy đủ, toàn vẹn và có tính kỷ luật chặt chẽ: nguyên tắc này góp phần hạn chế những sai sót và gia tăng trách nhiệm của đối tượng tham gia quản lý. Công tác quản lý đảm bảo thực hiện đầy đủ các nội dung, yêu cầu hồ sơ liên quan đồng thời quy định rõ nhiệm vụ cho từng nội dung, cán bộ cụ thể trong quá trình thực hiện. - Tính có thể dự báo được: Chi NSNN là việc sử dụng nguồn vốn của quốc gia, do đó cần có tính dự báo để đảm bảo việc sử dụng phù hợp và tính hiệu quả 8 trong việc chuẩn bị nguồn ngân sách. Hằng năm dựa trên kết quả thu NSNN và tình hình KT-XH và nhu cầu của từng đơn vị, nhà nước sẽ xây dựng dự toán về số chi NSNN làm căn cứ cho các đơn vị sự nghiệp thực hiện.
- Thông tin, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình: nguyên tắc này đảm bảo chi NSNN đúng mục đích, nôi dung mà cơ quan nhà nước đặt ra. Trong quá trình thực hiện, các nội dung quản lý phải công khai được số lượng, nội dung… mà nhà nước yêu cầu, đồng thời giải trình những sai sót hoặc chênh lệch về số liệu khi báo cáo với cơ quan nhà nước. - Bảo đảm cân đối, ổn định tài chính, ngân sách: NSNN là công cụ tài chính của quốc gia, nguyên tắc này đảm bảo việc sử dụng chi tiết kiệm, hiệu quả và phù hợp. Việc thu chi NSNN ở các đơn vị sự nghiệp phải đảm bảo tính hợp lý và đúng theo quy trình, hồ sơ mà nhà nước quy định.
- Nguyên tắc rõ ràng, trung thực và chính xác: Hạn chế sai sót liên quan đến hồ sơ hay thất thu NSNN từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng NSNN của đơn vị. Trong quá trình thực hiện chi NSNN cần đảm bảo đúng giá trị thực tế sử dụng và ghi trên sổ sách. Quá trình quản lý đảm bảo 1. Phân cấp quản lý chi ngân sách nhà nước của địa phương cấp huyện Phân cấp quản lý là sự chuyển giao thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới nhằm đạt được một cách có hiệu quả mục tiêu chung của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Theo khoản 16 điều 4 Luật NSNN số 83/QH13 năm 2015, phân cấp quản lý ngân sách là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý NSNN phù hợp với phân cấp quản lý KT-XH. Phân cấp quản lý chi NSNN của địa phương cấp huyện là quá trình nhà nước giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho chính quyền địa phương cấp huyện trong hoạt động quản lý chi NSNN như thẩm quyền ban hành các chế độ, chính sách; phân cấp về nguồn thu và nhiệm vụ chi; trách nhiệm của các cấp trong chu trình chi NSNN.