Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập của sở lao động – thương binh và xã hội. 4 - Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Điện Biên. - Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Điện Biên. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CỦA SỞ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI 1.
Đơn vị sự nghiệp công lập và chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công 1. Đơn vị sự nghiệp công lập Theo Quốc hội (2010) “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước”. Theo Chính phủ (2021) “Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng theo quy định của pháp luật, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hoặc phục vụ quản lý nhà nước”. “Dịch vụ sự nghiệp công là dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo; giáo dục nghề nghiệp; y tế - dân số; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin và truyền thông; khoa học và công nghệ; các hoạt động kinh tế và lĩnh vực khác (gồm: nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường, giao thông vận tải, công thương, xây dựng, tư pháp, lao động thương binh và xã hội, sự nghiệp khác)”.
Như vậy, đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hoặc phục vụ quản lý nhà nước. Các đơn vị sự nghiệp công lập có thể phân loại như sau: - Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động: gồm đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực như giáo dục đào tạo; giáo dục nghề nghiệp; y tế - dân số; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin và truyền thông; khoa học và công nghệ; các hoạt động kinh tế và lĩnh vực khác gồm: nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường, giao thông vận tải, công thương, xây dựng, tư pháp, lao động thương binh và xã hội, sự nghiệp khác. 6 - Căn cứ vào chủ thể quản lý: gồm đơn vị sự nghiệp công lập do (1) Trung ương quản lý bao gồm các đơn vị thuộc các bộ, ngành, cơ quan trung ương; (2) địa phương quản lý bao gồm các đơn vị thuộc các sở, ban, ngành, cơ quan địa phương. - Căn cứ theo mức độ tự chủ: theo Quốc hội (2012) gồm đơn vị sự nghiệp công lập (1) được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự; (2) chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự.
- Căn cứ vào mức độ tự chủ tài chính: theo Chính phủ (2021) gồm đơn vị sự nghiệp công lập (1) tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; (2) tự bảo đảm chi thường xuyên; (3) tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, bao gồm đơn vị tự bảo đảm từ 70% đến dưới 100% chi thường xuyên; đơn vị tự bảo đảm từ 30% đến dưới 70% chi thường xuyên; đơn vị tự bảo đảm từ 10% đến dưới 30% chi thường xuyên; (4) do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập Theo Quốc hội (2015) “ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. “Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh”. Từ các quy định trên có thể hiểu chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập là các khoản chi tiêu của NSNN dành cho các đơn vị sự nghiệp công lập để duy trì hoạt động của đơn vị nhằm thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hoặc phục vụ quản lý nhà nước.
Theo Bộ Tài chính (2016), chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm 3 nhóm chính: - Chi thanh toán cho cá nhân: gồm tiền lương; tiền công trả cho vị trí lao động thường xuyên theo hợp đồng; phụ cấp lương; học bổng và hỗ trợ cho cán bộ đi học; tiền thưởng; phúc lợi tập thể; các khoản đóng góp và các khoản thanh toán khác cho cá nhân. - Chi về hàng hóa dịch vụ: gồm thanh toán dịch vụ công cộng; vật tư văn phòng; thông tin, tuyên truyền, liên lạc; hội nghị; chi phí thuê mướn; chi đoàn ra; chi 7 đoàn vào; sửa chữa, duy tu tài sản phục vụ công tác chuyên môn và các công trình cơ sở hạ tầng; mua sắm tài sản phục vụ công tác chuyên môn; chi phí nghiệp vụ chuyên môn; mua sắm tài sản vô hình. - Các khoản chi khác: bao gồm chi khác; chi cho công tác Đảng; chi lâp các quỹ của đơn vị thực hiện khoán chi và đơn vị sự nghiệp có thu theo chế độ quy định; chi hỗ trợ và giải quyết việc làm. Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập của sở lao động - thương binh và xã hội 1.
Khái niệm và mục tiêu quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập của sở lao động - thương binh và xã hội Theo Phan Hữu Nghị và Lê Hùng Sơn (2020) “quản lý NSNN là một nội dung quản lý tài chính. Trong hoạt động của NSNN, chủ thể quản lý là Nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ NSNN. Chủ thể trực tiếp quản lý NSNN là bộ máy tài chính trong hệ thống cơ quan nhà nước. Đối tượng của quản lý NSNN là hoạt động thu, chi bằng tiền của NSNN; hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ NSNN.” Theo Quốc hội (2015) thì quản lý ngân sách nhà nước là quá trình lập dự toán, chấp hành, quyết toán và kiểm soát NSNN.
Vì vậy, xét theo quá trình, quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập của sở lao động – thương binh và xã hội là quá trình sở lao động – thương binh và xã hội lập dự toán chi thường xuyên NSNN; phân bổ, giao dự toán và hướng dẫn chấp hành chi thường xuyên NSNN; quyết toán chi thường xuyên NSNN và kiểm tra, thanh tra chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc. Mục tiêu của quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập của sở lao động – thương binh và xã hội là chi đúng, chi đủ, chi kịp thời các khoản chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập; tiết kiệm chi và không để thất thoát NSNN. Mục tiêu trên được cụ thể hóa thông qua các chỉ số sau: - Số lần các đơn vị sự nghiệp công lập phải điều chỉnh dự toán chi thường xuyên NSNN. 8 - Số chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN của các đơn vị sự nghiệp công lập so với dự toán.
- Số quyết toán chi thường xuyên NSNN của các đơn vị sự nghiệp công lập so với số dự toán và số chấp hành. - Số tiền chi thanh toán cá nhân cho các cơ quan trực thuộc bị phát hiện sai phạm sau kiểm tra, thanh tra, kiểm toán. - Thời gian các đơn vị sự nghiệp công lập nộp dự toán và báo cáo quyết toán chi thường xuyên NSNN cho sở lao động – thương binh và xã hội so với quy định. Bộ máy quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập của sở lao động - thương binh và xã hội Bộ máy quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập của sở lao động - thương binh và xã hội bao gồm: Lãnh đạo sở lao động – thương binh và xã hội Phòng kế hoạch – tài chính Phòng thanh tra Các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sơ đồ 1.1: Bộ máy quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập của sở lao động – thương binh và xã hội Nguồn: Tác giả tổng hợp - Lãnh đạo sở: có thể là giám đốc sở hoặc phó giám đốc sở, chịu trách nhiệm toàn diện trong việc quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập từ phê duyệt dự toán, quyết toán cho đến chỉ đạo việc kiểm tra, thanh tra.
- Phòng kế hoạch - tài chính: là phòng nghiệp vụ thuộc sở, có chức năng tham mưu giúp lãnh đạo sở trong việc thực hiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc theo quy định của pháp luật. Cụ thể: 9 hướng dẫn các đơn vị sự nghiệp công lập dự toán; thẩm định, tổng hợp và xây dựng dự toán; thông báo phân bổ và giao dự toán, điều chỉnh dự toán; hướng dẫn chấp hành dự toán; hướng dẫn lập quyết toán; thẩm định quyết toán; kiểm tra giám sát các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc chấp hành dự toán, quyết toán ngân sách, chế độ báo cáo quyết toán, báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật. - Phòng Thanh tra: là phòng thuộc sở, giúp lãnh đạo sở trong công tác thanh tra việc quản lý chi NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc. Để quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập, sở lao động – thương binh và xã hội phải có đủ nhân lực với kiến thức, kỹ năng về tài chính, kế toán và thái độ thích hợp.