CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP XÃ 1. Ngân sách nhà nước cấp xã 1. Khái niệm ngân sách nhà nước cấp xã NSNN ra đời cùng với sự hình thành Nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hóa tiền tệ. Do đó, NSNN luôn gắn với bản chất của Nhà nước và quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Theo Điều 4, Luật NSNN năm 2015, NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. [12] Ở Việt Nam, việc tổ chức hệ thống NSNN (Hệ thống NSNN được hiểu là tổng thể các ngân sách của các cấp chính quyền trong hệ thống Nhà nước) dựa vào hệ thống của hành chính Nhà nước. Tuy nhiên trước đây trong lịch sử thì không phải mỗi cấp chính quyền luôn luôn là một cấp ngân sách. Cơ cấu của hệ thống NSNN cũng đã có một số những thay đổi nhất định theo thời gian.
Hệ thống NSNN bao gồm 04 cấp đó là cấp ngân sách thuộc ngân sách trung ương, ngân sách của cấp cấp tỉnh, ngân sách của cấp huyện và cuối cùng đó là ngân sách của cấp xã đã được Nhà nước ta thừa nhận trên cơ sở áp dụng thực tiễn Việt Nam và vẫn được duy trì thực hiện cho đến hiện nay. Theo Điều 6, Luật NSNN năm 2015, ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương: - Ngân sách trung ương: Đây được xem là các khoản thu mà NSNN phân cấp cho các cơ quan trung ương hưởng và một số khoản chi trong NSNN thuộc trong khối nhiệm vụ chi của các cấp trung ương. Ngân sách trung ương sẽ bao gồm các đơn vị thuộc dự toán của cơ quan trung ương bao gồm các bộ, các cơ quan ngang bộ, các tổ chức xã hội thuộc trung ương, cũng như các cơ quan trực thuộc chính phủ và các tổ 9 chức đoàn thể thuộc trung ương đứng ra dự toán. - Nguồn ngân sách địa phương: Đây được xem là các khoản thu mà được NSNN đứng ra phân cấp cho các cấp tại địa phương thu bổ sung từ ngân sách trung ương, hưởng và một số các khoản chi NSNN mà thuộc trong phạm vi chi của cấp địa phương.
Trong quỹ ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương trong đó sẽ tính đến quỹ ngân sách của các thị trấn, các phường và xã; quỹ ngân sách huyện, thị xã, quận, của các thành phố trực thuộc tỉnh và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Như vậy, NSNN cấp xã là cấp ngân sách thấp nhất trong hệ thống NSNN ở Việt Nam. Có thể hiểu NSNN cấp xã như sau: NSNN cấp xã là toàn bộ các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình tạo lập phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp xã nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước cấp xã trong khuôn khổ được phân cấp quản lý. Các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể theo khái niệm nêu trên bao gồm: - Quan hệ giữa chính quyền cấp xã với chính quyền cấp trên.
Đây là mối quan hệ được thể hiện trong việc xác định nguồn thu, nhiệm vụ chi cho cấp xã. - Quan hệ chính quyền cấp xã với các tổ chức Đảng, tổ chức chính trị, xã hội trong xã. Đó là việc tạo lập các khoản chi cho hoạt động của các tổ chức này. - Quan hệ giữa chính quyền xã với các tổ chức kinh tế, các hợp tác xã trên địa bàn xã.
Đây là việc thực hiện thu nộp từ các tổ chức này. - Quan hệ giữa chính quyền xã với dân cư trong xã. Đây là việc thực hiện việc thu từ dân, hộ kinh doanh theo quy định vào NSX hoặc những khoản chi từ ngân sách xã để phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu của dân. Đây là một mối quan hệ vô cùng phức tạp, nó thể hiện sự đảm bảo công bằng trong các vấn đề về tài chính.
- Quan hệ giữa chính quyền Nhà nước cấp trên với dân cư trong xã. Mối quan hệ này thường thông qua các chương trình quốc gia, các chương trình mục tiêu, chương trình dự án,. từ cấp trên, từ các tổ chức. Đặc điểm của ngân sách nhà nước cấp xã NSNN cấp xã có một số đặc điểm như sau: 10 - Là một cấp trong hệ thống NSNN, thực hiện nhiệm vụ thu, chi của chính quyền cấp xã và là đơn vị nhận bổ sung từ ngân sách cấp huyện.
Đặc điểm này dẫn đến tình trạng phụ thuộc, ỷ lại vào ngân sách cấp trên của không ít chính quyền cấp xã trên cả nước trong nhiều năm qua. - Hoạt động của NSNN cấp xã luôn gắn chặt với hoạt động chính quyền Nhà nước cấp xã trong quá trình phân phối lợi ích đối với Nhà nước cấp trên và các chủ thể khác trong xã hội, đó là sự thể hiện các mặt hoạt động KTXH của chính quyền cấp xã, là việc xử lý các quan hệ lợi ích trong xã hội khi chính quyền cấp xã tham gia phân phối các nguồn tài chính của quốc gia với chính quyền cấp trên và các chủ thể khác trong xã hội. - Phần lớn các khoản thu, chi của NSNN cấp xã được thực hiện theo phương thức phân phối lại và không hoàn trả một cách trực tiếp. NSNN cấp xã được tạo lập trên cơ sở các quan hệ tài chính, nhưng nét đặc trưng riêng biệt của nó là được chia thành nhiều quỹ có mục đích sử dụng riêng.
Các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong xã hội với NSNN cấp xã phát sinh trong lĩnh vực phân phối các nguồn lực tài chính, do chính quyền địa phương tiến hành điều chỉnh, tùy vào điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội trong từng thời kỳ mà có sự thay đổi cho phù hợp, sự thay đổi thể hiện qua các nội dung thu, chi của NSNN cấp xã. - Quan hệ giữa NSNN cấp xã và các chủ thể trong xã hội phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các nguồn tài chính quốc gia thực chất là quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích giữa ngân sách cấp xã và các chủ thể kinh tế hoạt động trên địa bàn, trong đó lợi ích của địa phương được đặt lên hàng đầu và chi phối các lợi ích khác. Nguồn thu của ngân sách nhà nước cấp xã Theo Thông tư số 344/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính, các nguồn thu của NSNN cấp xã như sau: [2] - Các khoản thu cấp xã hưởng 100%: là các khoản thu dành cho cấp xã sử dụng toàn bộ để chủ động về nguồn tài chính đảm bảo các nhiệm vụ chi thường xuyên, đầu tư phát triển. Căn cứ vào nguồn thu, chế độ phân cấp quản lý KTXH và nguyên tắc đảm bảo tối đa nguồn tại chỗ cân đối cho các khoản thu, chi thường xuyên, khi phân 11 cấp nguồn thu, HĐND cấp tỉnh xem xét dành cho NSNN cấp xã hưởng 100% các khoản thu sau: + Các khoản phí, lệ phí thu vào NSNN cấp xã theo quy định.
+ Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào NSNN theo quy định. + Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản khác theo quy định của pháp luật do cấp xã quản lý. + Các khoản huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: các khoản huy động đóng góp theo pháp luật quy định, các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do HĐND cấp xã quyết định đưa vào NSNN cấp xã quản lý và các khoản đóng góp tự nguyện khác. + Viện trợ không hoàn lại của các cá nhân và tổ chức ở ngoài nước trực tiếp cho NSNN cấp xã theo chế độ quy định.
+ Thu kết dư NSNN cấp xã năm trước. + Các khoản thu khác của NSNN cấp xã theo quy định của pháp luật. - Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa NSNN cấp xã với ngân sách cấp trên, bao gồm: + Thuế chuyển quyền sử dụng đất. + Thuế nhà đất.
+ Thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh. + Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình. + Lệ phí trước bạ nhà đất. Các khoản thu trên tỷ lệ NSNN cấp xã được hưởng tối thiểu là 70%.
Căn cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi của cấp xã. HĐND cấp tỉnh có thể quy định tỷ lệ NSNN cấp xã được hưởng cao hơn, đến tối đa là 100%. Ngoài các khoản thu phân chia như trên NSNN cấp xã còn được HĐND các cấp tính bổ sung thêm các nguồn thu phân chia sau khi các khoản thuế, phí, lệ phí phân chia theo Luật NSNN đã dành 100% cho NSNN cấp xã và các khoản thu NSNN cấp xã được hưởng 100% nhưng vẫn chưa cân đối đựơc nhiệm vụ chi. - Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho NSNN cấp xã, bao gồm: 12 + Thu bổ sung để cân đối ngân sách là mức chênh lệch giữa dự toán chi được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp (gồm các khoản thu 100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ).
Số bổ sung cân đối này được xác định từ đầu thời kỳ ổn định ngân sách và được giao từ 03 đến 05 năm. + Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản bổ sung theo từng năm để hỗ trợ cấp xã thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể. Nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước cấp xã Theo Thông tư số 344/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính [2], các nhiệm vụ chi NSNN cấp xã bao gồm: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. HĐND cấp tỉnh quyết định phân cấp nhiệm vụ chi cho NSNN cấp xã.
Căn cứ vào chế độ phân cấp quản lý KTXH của Nhà nước, các chính sách chế độ về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội và nhiệm vụ phát triển KTXH của xã khi phân cấp nhiệm vụ chi cho NSNN cấp xã, HĐND tỉnh xem xét giao cho NSNN cấp xã thực hiện các nhiệm vụ thu, chi dưới đây.