Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện. Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 1.
Tổng quan về ngân sách nhà nước Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 và Luật NSNN sửa đổi Số: 83/2015/QH13 (ngày 25/06/2015) đã xác định:“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Xét theo góc độ quản lý thì NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước hay bảng cân đối thu - chi chủ yếu của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm và được gọi là năm ngân sách). Tại hầu hết các nước trong đó có Việt Nam, năm ngân sách trùng với năm dương lịch, bắt đầu từ 01/01 kết thúcvào 31/12. Về bản chất của NSNN, đằng sau những con số thu, chi đó là các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước.
Đối tượng phân phối để tạo lập nguồn thu cho NSNN là giá trị của cải xã hội. Mục đích phân phối, sử dụng nguồn vốn NSNN là đáp ứng cho các nhu cầu gắn liền với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời gian cụ thể. Vì vậy, nghiệp vụ chủ yếu của NSNN là thu - chi nhưng không đơn thuần là việc tăng giảm số lượng tiền tệ mà còn phản ánh quan hệ kinh tế - tài chính giữa Nhà nước với các tác nhân khác nhau của nền kinh tế trong quá trình phân bổ các nguồn lực và phân phối thu nhập mới được tạo ra. NSNN có vai trò quan trọng trong hoạt động KT-XH, ANQP và đối ngoại của đất nước.
Tuy nhiên vai trò của NSNN bao giờ cũng gắn với vai trò của Nhà nước trong từng thời kỳ. Có thể xem xét vai trò của NSNN trên các lĩnh vực sau đây: Thứ nhất, NSNN đảm bảo nguồn tài chính đáp ứng cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời gian cụ thể theo quy định của 6 pháp luật. Với quyền lực của mình Nhà nước sử dụng các công cụ, biện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình nguồn lực tài chính cần thiết. Theo đó, Nhà nước có thể huy động nguồn tài chính thông qua các chính sách thuế và phí, đây là những khoản thu có tính chất bắt buộc và không hoàn trả được quyết định bởi quyền lực của Nhà nước thông qua hệ thống pháp lý.
Thứ hai, NSNN là công cụ tài chính quan trọng được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội. Các công cụ được sử dụng để điều tiết vĩ mô gồm: chi tiêu chính phủ, thuế, phí, lãi suất tín dụng, tỷ lệ lãi suất chiết khấu,… Thông qua các chính sách thuế, sẽ đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh, hỗ trợ huy động các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển. NSNN cũng là công cụ được Nhà nước sử dụng để kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả thị trường và tạo việc làm cho người lao động. Ngoài ra, về mặt xã hội, các khoản chi NSNN cho giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, trợ cấp… sẽ góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư; các chính sách thuế sẽ góp phần điều tiết tiêu dùng hợp lý, đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập vì vậy tạo ra sự ổn định KT-XH.
Thứ ba, NSNN giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính của nền kinh tế quốc dân, là công cụ kiểm tra, giám sát các hoạt động KT-XH. NSNN là quỹ tiền tệ lớn nhất và thuộc quyền chi phối của Nhà nước, NSNN đã trở thành công cụ giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính của nền kinh tế quốc dân. Vai trò này của NSNN được thừa nhận trong hoạt động thực tiễn qua thông qua thu – chi NSNN. Là một phạm trù tài chính, NSNN cũng có chức năng giám đốc tài chính.
NSNN có mối quan hệ mật thiết với các khâu tài chính khác trong hệ thống tài chính quốc gia. Theo Luật NSNN năm 2015, hệ thống NSNN gồm NSTƯ và NSĐP. Trong đó, NSĐP bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND dân và UBND và được chia thành: ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh); ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện); và ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã). 7 Cơ cấu tổ chức của hệ thống NSNN nước ta có thể mô tả theo sơ đồ sau: NSNN NSĐP NSTƯ NS cấp tỉnh NS cấp huyện NS các Bộ, cơ quan TƯ NS của các Sở, ban NS cấp huyện NS cấp xã ngành thuộc tỉnh NS các phòng, ban NS các đơn vị cấp huyện thuộc xã Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc hệ thống ngân sách Nhà nước ở việt Nam Quan hệ giữa NSNN các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc: NSTƯ và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể; Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương.
Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới; Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó; và ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi vừa nêu trên, không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác. Ngân sách cấp huyện trong hệ thống ngân sách nhà nước 1. Khái niệm NSNN cấp huyện Ngân sách huyện là một cấp ngân sách của chính quyền huyện, do UBND huyện xây dựng, quản lý và sử dụng, do HĐND huyện quyết định và giám sát quá trình tổ chức thực hiện. 8 Như vậy, khái niệm ngân sách huyện có thể được khái quát như sau: Ngân sách nhà nước cấp huyện (hay ngân sách huyện) là toàn bộ các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình tạo lập phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp huyện nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước cấp huyện trong khuôn khổ được phân công quản lý.
Ngân sách huyện mang bản chất của NSNN, đó là mối quan hệ giữa ngân sách huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện, mối quan hệ đó được điều chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đặc điểm của ngân sách nhà nước cấp huyện - Ngân sách huyện là một cấp ngân sách có nguồn thu và nhiệm vụ chi riêng. Đó là một lối đi đúng đắn trong quá trình phát triển nền tài chính quốc gia.
Trước tiên, nó giúp cho ngân sách cấp tỉnh, Trung ương giảm được khối lượng công việc. Tiếp theo, nó giúp cho ngân sách cấp chính quyền có thể nắm bắt được tình hình kinh tế nói chung và tài chính nói riêng từ cơ sở. - Ngân sách huyện mang bản chất của NSNN: đó là mối quan hệ giữa ngân sách huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện. - Các hoạt động thu - chi của ngân sách huyện luôn gắn với chức năng, nhiệm vụ của chính quyền huyện theo luật định, đồng thời luôn chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước ở cấp huyện.
Chính vì vậy các chỉ tiêu thu - chi của ngân sách huyện luôn mang tính pháp lý. - Ngân sách huyện vừa là một cấp trong hệ thống NSNN vừa là một đơn vị dự toán. Bởi vì ngân sách huyện thực hiện nhiệm vụ thu - chi của một cấp ngân sách và là đơn vị nhận bổ sung từ ngân sách cấp trên, đồng thời cấp bổ sung cho ngân sách cấp xã. Ngoài ra, ngân sách huyện còn thể hiện bản chất chính trị của Nhà nước ta thông qua việc thực hiện đúng đắn, hiệu quả, có sáng tạo các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Vai trò của NSNN cấp huyện - Ngân sách huyện bảo đảm thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước, bảo vệ an ninh trật tự của huyện: Là một cấp chính quyền, huyện cũng tổ chức ra cho mình một hệ thống các cơ quan, đoàn thể hành chính nhằm thực hiện các chức năng quản lý của Nhà nước. Điều đó cũng có nghĩa là để cho các cơ quan, đoàn thể đó hoạt động được cần phải có một quỹ tài chính tập trung cho nó - đó chính là ngân sách huyện. Mặc dù không lớn mạnh như ngân sách Trung ương nhưng ngân sách huyện cũng tạo cho mình một vị thế nhất định nhằm chủ động trong việc thực hiện chức năng Nhà nước ở địa phương. Tùy theo phạm vi địa lý, tình hình KT-XH trên từng huyện mà nhu cầu đảm bảo này khác nhau.
- Ngân sách huyện là công cụ thúc đẩy phát triển và ổn định kinh tế huyện: Để thực hiện tốt chiến lược kinh tế - tài chính cấp tỉnh, cấp Trung ương, cấp huyện cần phải sử dụng các công cụ sẵn có của mình để điều tiết, định hướng. Một trong những công cụ đắc lực là ngân sách. Huyện phải căn cứ vào thế mạnh của địa phương mình để định hướng, hình thành cơ cấu kinh tế, kích thích phát triển. Đồng thời, huyện phải cung cấp kinh phí, vốn đầu tư, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.