CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn Ngân sách Nhà nước 1. Đầu tư xây dựng cơ bản Khái niệm Đầu tư xây dựng cơ bản: Đầu tư XDCB là hoạt động tạo ra những công trình xây dựng gắn liền với địa điểm cụ thể, với quy mô, công suất nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế và phục vụ cho đời sống nhân dân.
Hoạt động xây dựng phải đảm bảo tuân thủ đúng trình tự thủ tục, chất lượng, tiến độ, an toàn lao động, vệ sinh môi trường và quản lý chi phí theo các quy định của pháp luật. (Trịnh Văn Vinh, 2012) Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản: - Là quá trình đầu tư, trước hết nó là hoạt động bỏ vốn, vì vậy quyết định đầu tư thường là quyết định tài chính, thể hiện qua các chỉ tiêu: Tổng mức đầu tư, nguồn, cơ cấu tài chính, khả năng hoàn vốn. - Đầu tư XDCB là hoạt động có tính lâu dài, kết quả đầu tư XDCB là những dự án có giá trị lớn. Do đó cần phải dự tính được những thay đổi có ảnh hưởng đến quá trình thực hiện dự án.
Chủ đầu tư cũng phải mua từng phần thay vì mua ngay công trình một lúc vì giá trị dự án rất lớn (từng hạng mục hay bộ phận công trình hoàn thành). - Mỗi sản phẩm sẽ có chi phí khác nhau, đây là đặc tính đơn chiếc của sản phẩm đầu tư XDCB. Đây là đặc điểm cần được lưu ý trong quá trình quản lý vốn đầu tư. Quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xác định cho từng công trình.
- Đầu tư XDCB là hoạt động có rủi ro cao do thời gian đầu tư thường dài hạn, hoạt động phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên. Luan van 11 Các giai đoạn đầu tư XDCB: Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng và đặc điểm của sản xuất xây dựng chi phối nên hoạt động đầu tư và xây dựng đòi hỏi phải tuân thủ trình tự các bước theo từng giai đoạn. Vi phạm trình tự đầu tư và xây dựng sẽ gây ra lãng phí, thất thoát và tạo sơ hở cho phát sinh các tiêu cực trong hoạt động đầu tư và xây dựng. Trên cơ sở quy hoạch đã phê duyệt trình tự thực hiện dự án đầu tư ba giai đoạn bao gồm: (i) Chuẩn bị đầu tư; (ii) Thực hiện đầu tư và (iii) Đưa vào khai thác sử dụng.
Bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau, giai đoạn trước là cơ sở thực hiện giai đoạn sau. Tuy nhiên tùy tính chất và qui mô của dự án mà các bước trên có thể rút ngắn lại như: ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, đối với những dự án vừa và nhỏ thì có thể không cần bước nghiên cứu cơ hội đầu tư và bước nghiên cứu tiền khả thi mà xây dựng luôn dự án khả thi, thậm chí chỉ cần lập báo cáo kinh tế kỹ thuật đối với những dự án có thiết kế mẫu. Khi bước trước đã thực hiện xong, cần đánh giá các khía cạnh về kinh tế, tài chính, kỹ thuật của bước đó, nếu đạt yêu cầu các tiêu chuẩn, quy định nếu có thì mới được thực hiện bước tiếp theo; đáng lưu ý nhất là thực hiện trình tự theo giai đoạn (chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và đưa vào khai thác sử dụng) phải được cấp có thẩm quyền, cơ quan có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt nghiêm túc. Chuẩn bị đầu tư Giai đoạn này bao gồm các bước như sau: – Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư.
– Tiến hành thăm dò, xem xét thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ; tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư. – Tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng. – Lập dự án đầu tư. – Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu Luan van 12 tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan chức năng thẩm định dự án đầu tư.
Với những nội dung quan trọng như trên thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư là giai đoạn tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau (giai đoạn thực hiện đầu tư và đưa vào khai thác sử dụng). Do đó đối với giai đoạn này thì mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu là quan trọng nhất, chừng nào còn thấy phân vân về kết quả nghiên cứu thì chừng đó còn giành thời gian để nghiên cứu tiếp. Thực hiện đầu tư – Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (bao gồm cả mặt nước, mặt biển, thềm lục địa). – Chuẩn bị mặt bằng xây dựng.
– Tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng công trình. – Phê duyệt, thẩm định thiết kế và tổng dự toán, dự toán hạng mục công trình. – Tổ chức đấu thầu thi công xây lắp, cung ứng thiết bị. – Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có).
– Ký kết hợp đồng kinh tế với nhà thầu đã trúng thầu. – Thi công xây lắp công trình. – Kiểm tra giám sát việc thực hiện các hợp đồng. Đối với giai đoạn này vấn đề quản lý thời gian, chi phí, chất lượng công trình là quan trọng nhất.
Vì vậy, tổ chức quản lý tốt trong từng khâu sẽ giúp tránh được thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản. Đưa vào khai thác sử dụng Đến giai đoạn này việc thực hiện đầu tư đã hoàn tất, nếu các kết quả do giai đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo tính đồng bộ, giá thành thấp, chất lượng tốt, Luan van 13 đúng tiến độ, tại địa điểm thích hợp thì hiệu quả của hoạt động đầu tư chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức quản lý hoạt động của các kết quả đầu tư. Thực hiện đầy đủ các yêu cầu trên về trình tự là cơ sở để khắc phục những khó khăn, tồn tại do những đặc điểm của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản gây ra. Vì vậy, những quy định về trình tự đầu tư và xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng, chi phí xây dựng công trình trong quá trình thi công xây dựng, tác động của công trình sau khi hoàn thành xây dựng đưa vào sử dụng đối với nền kinh tế của vùng, của khu vực cùng như đối với cả nước.
Do đó việc chấp hành trình tự đầu tư và xây dựng có ảnh hưởng rất lớn, có tính chất quyết định không những đối với chất lượng công trình, dự án đầu tư mà còn ảnh hưởng rất lớn đến thất thoát, lãng phí, tạo sơ hở cho tham nhũng về vốn và tài sản trong hoạt động đầu tư, xây dựng từ đó làm tăng chi phí xây dựng công trình, dự án, hiệu quả đầu tư thấp. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 quy định: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Như vậy, có thể thấy vốn gắn liền với hoạt động đầu tư. Vốn đầu tư XDCB thuộc NSNN là vốn của NSNN được cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm từ các nguồn thu trong nước, nước ngoài (bao gồm vay nước ngoài của Chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan Nhà nước) để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư XDCB.
Đặc điểm của vốn đầu xây dựng cơ bản: Vốn đầu tư XDCB mang đầy đủ những nét đặc trưng của sản phẩm hình thành từ quá trình đầu tư xây dựng đó là công trình xây dựng. “Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp gắn liền với đất (bao gồm cả khoảng không, mặt nước, mặt biển và thềm lục địa) được tạo thành bằng vật liệu xây dựng, thiết bị và lao động.” (Luật đầu tư số 67/2014/QH13) Vốn đầu tư XDCB có những đặc điểm Luan van 14 sau: Thứ nhất, vốn đầu tư XDCB thường có quy mô lớn. Để hình thành công trình xây dựng cần phải trải qua rất nhiều công đoạn, với sự tham gia của nhiều người ở các lĩnh vực chuyên môn khác nhau; hao phí về lao động, máy móc, nhiên, nguyên vật liệu là rất lớn. Hơn nữa, do công trình xây dựng gắn liền với đất, không di chuyển được nên không thể sản xuất ở nơi có chi phí rẻ để đem tiêu thụ ở nơi có chi phí cao hơn như các loại các sản phẩm khác.
Thứ hai, vốn đầu tư XDCB thường dài hạn. Do công trình xây dựng mang tính đơn chiếc, không thể sản xuất đồng loạt, có chăng chỉ sản xuất đồng loạt một số cấu kiện trong nhà máy rồi đem lắp giáp ngoài công trường, tuy nhiên vẫn phải trải qua nhiều công đoạn mới trở thành công trình xây dựng hoàn chỉnh. Việc xây dựng công trình cần nhiều thời gian, do vậy vốn đầu tư XDCB thường dài hạn. Thứ ba, vốn đầu tư XDCB chủ yếu được sử dụng để hình thành nên cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và tài sản cố định trong nền kinh tế.
Các công trình hạ tầng kỹ thuật: đường xá, cầu cống, bến cảng, sân bay. và các công trình hạ tầng xã hội: trường học, bệnh viện, nhà văn hóa. đều là sản phẩm gắn liền với đất. Để đầu tư xây dựng các công trình này đều cần phải có vốn.
Lượng vốn này thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của xã hội. Thứ tư, vốn đầu tư XDCB dễ bị thất thoát, lãng phí. Vốn đầu tư XDCB có quy mô lớn, thời gian đầu tư kéo dài nên rất dễ xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí. Tình trạng tham nhũng, bớt xén các khoản chi của Nhà nước cho đầu tư xây dựng có thể gây nhiễu loạn xã hội, làm thay đổi chủ trương đầu tư, làm giảm uy tín, vai trò của các cơ quản nhà nước, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước.