phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ NSNN Chƣơng 2: Thực trạng quản lý chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn huyện Nhƣ Thanh, tỉnh Thanh Hóa Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn huyện Nhƣ Thanh, tỉnh Thanh Hóa 4 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Lý luận cơ bản về quản lý chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nƣớc 1.
Khái niệm và đặc điểm ngân sách nhà nước Ngân sách là một khái niệm chung phản ánh kế hoạch thu và chi đƣợc xác định từ trƣớc của các tác nhân kinh tế nhƣ hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ. Nếu chủ thể là nhà nƣớc thì đƣợc gọi ngân sách chính phủ hay ngân sách nhà nƣớc. Ngân sách là một khái niệm quan trọng trong kinh tế vi mô, kinh tế vĩ mô và là một phạm trù kinh tế, chính trị, pháp lý. Ngân sách Nhà nƣớc là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử.
Sự hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ trong các phƣơng thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nƣớc của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, sự ra đời của Nhà nƣớc là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nƣớc [16]. Theo Giáo trình Quản lý Tài chính công, quan niệm về ngân sách nhà nƣớc đƣợc hiểu theo các góc độ khác nhau: Trên góc độ kinh tế, ngân sách nhà nƣớc là một công cụ chính sách kinh tế của quốc gia, đƣợc sử dụng để đạt các mục tiêu: Kỷ luật tài khóa, phân bổ nguồn lực theo thứ tự ƣu tiên, và sử dụng nguồn lực hiệu quả. Trên góc độ chính trị, ngân sách nhà nƣớc là bản dự toán thu chi ngân sách của nhà nƣớc đƣợc trình cho cơ quan quyền lực nhà nƣớc để đảm bảo các đại biểu của ngƣời dân giám sát, phê duyệt.
Trên góc độ luật pháp, ngân sách nhà nƣớc là một văn bản pháp luật của nhà nƣớc đƣợc Quốc hội phê duyệt [15]. Theo Luật ngân sách nhà nƣớc Việt Nam năm 2015, ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đƣợc dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc [26]. 5 Mặc dù cách định nghĩa về NSNN có khác nhau, nhƣng điểm chung của các định nghĩa nêu trên là: NSNN là một kế hoạch thu, chi của nhà nƣớc xây dựng cho một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là một năm); kế hoạch này đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn; các khoản chi có mục đích là bảo đảm cho nhà nƣớc thực hiện chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao. Ngân sách nhà nƣớc đƣợc phân cấp thành ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng.
Ngân sách trung ƣơng là các khoản thu ngân sách nhà nƣớc phân cấp cho cấp trung ƣơng hƣởng và các khoản chi ngân sách nhà nƣớc thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ƣơng. Ngân sách địa phƣơng là các khoản thu ngân sách nhà nƣớc phân cấp cho cấp địa phƣơng hƣởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ƣơng cho ngân sách địa phƣơng và các khoản chi ngân sách nhà nƣớc thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phƣơng [26]. Ngân sách địa phƣơng gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phƣơng, cụ thể: + Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng, bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng; + Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng, bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách của các xã, phƣờng, thị trấn; + Ngân sách các xã, phƣờng, thị trấn. Ngân sách nhà nƣớc cấp huyện là ngân sách của các đơn vị hành chính có hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân [26].
Đặc điểm của Ngân sách Nhà nước Hệ thống ngân sách nhà nƣớc Hệ thống ngân sách nhà nƣớc đƣợc hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách. Tổ chức hệ thống ngân sách gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy Nhà nƣớc và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Theo điều 4, Luật NSNN 2015 quy định: Hệ thống ngân sách nhà nƣớc gồm ngân sách trung ƣơng và 6 ngân sách địa phƣơng. Ngân sách địa phƣơng bao gồm: Ngân sách cấp thành phố, thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi chung là ngân sách cấp thành phố); Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc thành phố (gọi chung là ngân sách cấp huyện) và Ngân sách cấp xã, phƣờng (gọi chung là ngân sách cấp xã).
Ngân sách địa phƣơng chịu trách nhiệm quản lý chi NSNN địa phƣơng, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chính quyền cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ƣơng. Chính quyền cấp tỉnh cần chủ động, sáng tạo trong việc động viên khai thác thế mạnh trên địa bàn địa phƣơng để đảm bảo chi và thực hiện cân đối ngân sách của cấp mình. Ngân sách cấp huyện, do chính quyền cấp huyện tổ chức thực hiện quản lý chi theo quy định phân cấp của tỉnh nhằm khai thác tốt nguồn thu để đảm bảo nhiệm vụ chi ngân sách cấp mình. Ngân sách cấp xã, phƣờng do chính quyền cấp xã phƣờng tổ chức thực hiện theo quy định của cấp huyện nhằm đảm bảo các nhiệm vụ phát sinh trên địa bàn địa phƣơng mình quản lý Ngân sách nhà nƣớc vừa là nguồn lực để nuôi dƣỡng bộ máy Nhà nƣớc, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nƣớc quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau: [16] - Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nƣớc, đƣợc Nhà nƣớc tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.
NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt, bởi lẽ trong NSNN, các chủ thể của nó đƣợc thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan nhƣ hiến pháp, các luật thuế,… nhƣng mặt khác, bản thân NSNN cũng là một bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế - xã hội có liên quan phải tuân thủ. - Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nƣớc và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Nhà nƣớc là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu – chi của NSNN và hoạt động thu – chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nƣớc giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nƣớc tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nƣớc với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cƣ,. 7 - Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi.
Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo. Thu, chi NSNN là cơ sở để thực hiện các chính sách của Chính phủ. Chính sách nào mà không đƣợc dự kiến trong NSNN thì sẽ không đƣợc thực hiện. Chính vì nhƣ vậy, việc thông qua NSNN là một sự kiện chính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của Nhà nƣớc.
Quốc hội mà không thông qua NSNN thì điều đó thể hiện sự thất bại của Chính phủ trong việc đề xuất chính sách đó, và có thể gây ra mâu thuẫn về chính trị. - Thứ tƣ, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nƣớc, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình. Trong đó tài chính nhà nƣớc là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia.
Tài chính nhà nƣớc tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Tài chính nhà nƣớc thực hiện huy động và tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính chất thuế. Trên cơ sở nguồn lực huy động đƣợc, Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách để tiến hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khu vực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. - Thứ năm, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp.
Trong thời kỳ phong kiến, mô hình ngân sách sơ khai và tuỳ tiện, lẫn lộn giữa ngân khố của Nhà vua với ngân sách của Nhà nƣớc phong kiến. Hoạt động thu – chi lúc này mang tính cống nạp – ban phát giữa Nhà vua và các tầng lớp dân cƣ, quan lại, thƣơng nhân, thợ thuyền và các nƣớc chƣ hầu (nếu có). Quyền quyết định các khoản thu – chi của ngân sách chủ yếu là do ngƣời đứng đầu một nƣớc (nhà vua) quyết định. Trong thời kỳ hiện nay (Nhà nƣớc TBCN hoặc Nhà nƣớc XHCN), ngân sách đƣợc dự toán, đƣợc thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyết định là của toàn dân đƣợc thực hiện thông qua Quốc hội.
NSNN đƣợc giới hạn thời gian sử dụng, đƣợc quy định nội dung thu - chi, đƣợc kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân [15]. Chi ngân sách nhà nước a. Chi ngân sách nhà nước Chi ngân sách Nhà nƣớc là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nƣớc nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nƣớc theo những nguyên tắc nhất định; là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã đƣợc tập trung vào ngân sách Nhà nƣớc và đƣa chúng đến mục đích sử dụng.