Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Hóa học (chuyên ngành Hóa Môi trường) của tác giả Phạm Nhã Trúc, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Văn Bình tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (hoàn thành tháng 5 năm 2010), tập trung khảo sát và phân tích thực trạng công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo lập luận của tác giả, tình trạng môi trường tại Việt Nam thời điểm nghiên cứu có chiều hướng suy giảm chất lượng nghiêm trọng do quá trình phát triển công nghiệp và nông nghiệp chưa đồng bộ với các biện pháp bảo vệ môi trường. Tại các đô thị lớn và trung tâm công nghiệp, sự gia tăng dân số nhanh chóng cùng nhu cầu tiêu dùng tăng cao đã phát sinh khối lượng lớn rác thải sinh hoạt, công nghiệp và y tế. Lượng chất thải rắn này gây áp lực trực tiếp lên sức khỏe cộng đồng, làm suy giảm cảnh quan đô thị và chiếm dụng diện tích đất lớn phục vụ chôn lấp. Tuy nhiên, mức độ quan tâm của người dân và hoạt động cung cấp thông tin đại chúng về quản lý rác thải đô thị khi đó vẫn còn hạn chế.
Đề tài xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu hiện trạng và một số vấn đề liên quan đến chất thải rắn ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tìm ra những tồn tại trong vấn đề giải quyết chất thải rắn ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đưa ra một số đề xuất, kiến nghị về giải quyết vấn đề chất thải rắn ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và trong thời gian tới.
Để giải quyết các mục tiêu trên, khóa luận triển khai 6 nội dung cơ bản:
- Giới thiệu sơ lược về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và các vấn đề môi trường của TP.HCM.
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận liên quan đến quản lý môi trường và chất thải rắn.
- Đánh giá hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố.
- Phân tích các tồn tại, bất cập trong chu trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải.
- Đánh giá tác hại của chất thải rắn đối với môi trường tự nhiên và sức khỏe con người.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý và kiến nghị thực thi chính sách.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị (nguồn phát sinh, thành phần, khối lượng, quy trình lưu trữ, thu gom, vận chuyển, tái chế và bãi chôn lấp).
- Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm 19 quận và 5 huyện), tập trung dữ liệu tại các bãi chôn lấp Đông Thạnh, Gò Cát, Phước Hiệp (Củ Chi), Đa Phước và khảo sát thực tế tại quận Bình Thạnh.
- Phạm vi thời gian: Khai thác chuỗi dữ liệu thống kê từ năm 1992 đến năm 2008, cập nhật hiện trạng kinh tế - xã hội và văn bản pháp quy đến giai đoạn 2009 - 2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận quản lý môi trường với tư cách là sự tác động có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên các hoạt động phát triển nhằm bảo đảm phát triển bền vững. Nghiên cứu phân tích 7 nguyên tắc quản lý môi trường tại Việt Nam (tính hệ thống, tính tổng hợp, tính liên tục và nhất quán, tính tập trung dân chủ, kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ, kết hợp hài hòa lợi ích, tiết kiệm và hiệu quả) cùng 4 nguyên tắc tổ chức bộ máy (gắn với mục đích hệ thống, chuyên môn hóa và cân đối, linh hoạt và thích nghi, hiệu lực và hiệu quả).
Về mặt pháp lý và quy chuẩn, văn bản viện dẫn các cơ sở chính sách:
- Luật Bảo vệ Môi trường (thông qua ngày 27/12/1993, hiệu lực từ 10/01/1994).
- Nghị định số 175/CP (Điều 22 quy định 21 tiêu chuẩn môi trường; Điều 34 quy định trách nhiệm nộp phí bảo vệ môi trường) và Nghị định số 26/CP ngày 26/04/1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020.
- Quy chế Quản lý chất thải nguy hại (16/07/1999) và Quy chế Quản lý chất thải y tế (Bộ Y tế, 1999).
- Hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam: TCVN 3164-1979 (phân loại hợp chất độc hại), TCVN 5507-1991 (hóa chất nguy hiểm), TCVN 6560-1999 (khí thải lò đốt chất thải y tế), TCVN 6696-2000 (yêu cầu bảo vệ môi trường đối với bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh).
- Quyết định số 311/QĐ-UBND ngày 21/01/2009 của UBND TP.HCM thực hiện nếp sống văn minh đô thị.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp sưu tầm và tổng hợp tài liệu: Thu thập số liệu thứ cấp từ Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, Công ty Môi trường Đô thị, Ủy ban Môi trường TP.HCM, Niên giám Thống kê và các báo cáo hiện trạng môi trường.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Xử lý, phân loại các dữ kiện rời rạc theo từng nhóm chuyên đề (nguồn thải, khối lượng, công nghệ xử lý) để rút ra các quy luật biến động.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu hiện trạng xử lý rác, tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý của TP.HCM với một số địa phương trong nước và khu vực.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Tác giả trực tiếp thực hiện khảo sát chọn mẫu với $n = 120$ công nhân vệ sinh tại quận Bình Thạnh (phát ra 120 phiếu, thu về 120 phiếu hợp lệ) nhằm xác định tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp và điều kiện làm việc thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Giới thiệu về đề tài
Chương này trình bày lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ áp lực rác thải đô thị tại TP.HCM; xác lập 3 mục tiêu và 6 nhiệm vụ nghiên cứu cốt lõi; chỉ rõ phạm vi không gian, thời gian; phân tích các phương pháp luận được áp dụng. Đồng thời, tác giả điểm qua lịch sử nghiên cứu, tiêu biểu là khóa luận tốt nghiệp năm 1999 của Nguyễn Hữu Bách về rác thải tại TP.HCM.
Chương II: Cơ sở lý luận
Chương II tập trung làm rõ hệ thống khái niệm chuyên ngành: định nghĩa môi trường, phát triển bền vững, chất thải rắn (thông thường, nguy hại, sinh hoạt, công nghiệp), các công đoạn quản lý (quy hoạch, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý). Chương này cũng phân tích cơ chế vận hành của hệ thống quản lý môi trường hiệu quả thông qua 3 chức năng phối hợp: giám sát môi trường, thanh tra môi trường và kiểm soát ô nhiễm, đồng thời tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật và bức tranh chung về quản lý chất thải rắn đô thị tại Việt Nam.
Chương III: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
Chương III phân tích các điều kiện nền tảng của TP.HCM:
- Điều kiện tự nhiên: Diện tích $2.095\text{ km}^2$, gồm 19 quận và 5 huyện. Địa hình chia 3 dạng: gò đồi lượn sóng (phía Bắc - Đông Bắc, cao 10 - 25 m, cao nhất 32 m tại đồi Long Bình), đất đồng bằng (5 - 10 m) và đất thấp trũng (0,5 - 1 m). Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, lượng mưa trung bình $1.949\text{ mm/năm}$, nhiệt độ trung bình $27^\circ\text{C}$, độ ẩm trung bình $79,5%$.
- Đặc điểm kinh tế - xã hội: Năm 2009, GDP bình quân đầu người đạt 46.000.000 đồng/người ($2.606\text{ USD/người}$). Cơ cấu kinh tế gồm dịch vụ ($51,1%$), công nghiệp - xây dựng ($47,7%$), nông nghiệp ($1,2%$). Dân số theo điều tra 01/04/2009 đạt $7.086.000$ người, tốc độ tăng bình quân $3,53%/\text{năm}$ (tăng cơ học $1,9%$). Mật độ dân số chênh lệch lớn giữa nội thành (các Quận 3, 4, 5, 10, 11 trên $40.000\text{ người/km}^2$) và ngoại thành (Cần Giờ chỉ $96\text{ người/km}^2$).
- Hiện trạng môi trường: Nước thải sinh hoạt phát sinh khoảng $500.000\text{ m}^3/\text{ngày}$, nước thải công nghiệp từ hơn 700 xí nghiệp và 22.562 cơ sở tiểu thủ công nghiệp đạt $43.300\text{ m}^3/\text{ngày}$ (hầu hết xả trực tiếp không qua xử lý hoàn chỉnh). Lượng phương tiện cơ giới năm 2009 gồm 4.228 ô tô và 4.538 môtô/xe máy đăng ký mới.
+-------------------------------------------------------------------------+
| SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TP.HCM |
| |
| [Quản lý trực tiếp] [Quan hệ phối hợp] |
| CÔNG TY MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ CÁC QUẬN / HUYỆN |
| - Trạm trung chuyển - Đội Vệ sinh Quận |
| - Bãi chôn lấp tập trung - Công ty DV Công ích |
| - Nhà máy xử lý nước rỉ rác - Đường dây rác dân lập|
+-------------------------------------------------------------------------+
Chương IV: Hiện trạng quản lý chất thải rắn
Chương IV trình bày sơ đồ hệ thống quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị và xác định 5 nguồn phát sinh: khu dân cư; chợ và khu thương mại - dịch vụ; công sở và trường học; trạm xử lý nước thải và cống rãnh; các khu công nghiệp.
Về phân loại, tác giả trình bày 4 phương thức phân loại:
- Theo bản chất nguồn tạo thành: Chất thải sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng.
- Theo thành phần vật lý - hóa học: Chất cháy được và không cháy được; chất thải hữu cơ và vô cơ; chất thải kim loại và phi kim loại.
- Theo mức độ nguy hại: Chất thải nguy hại và không nguy hại.
- Theo nguồn gốc phát sinh: 8 nhóm khu vực (thương mại, cơ quan, xây dựng, công cộng, nhà máy xử lý, công nghiệp, nông nghiệp...).
Đặc điểm chất thải rắn TP.HCM: Thành phần hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ lệ cao, độ ẩm lớn (đặc trưng nhiệt đới), khối lượng biến đổi theo thời gian và mức sống, đồng thời thành phần rác thay đổi đáng kể từ nguồn đến bãi chôn lấp do lực lượng nhặt ve chai thu gom phế liệu.
Tác hại của chất thải rắn được phân tích qua 5 khía cạnh:
- Làm mất mỹ quan đô thị do vứt rác bừa bãi.
- Ảnh hưởng sức khỏe con người: Khảo sát tại quận Bình Thạnh ghi nhận $78/120$ công nhân vệ sinh từng mắc các bệnh về da, mắt, hô hấp, xương (tỷ lệ $65%$). Người dân sống quanh bãi rác Đa Phước chịu mùi hôi và mật độ ruồi muỗi cao.
- Chi phí xử lý tốn kém: Bãi rác Phước Hiệp tiêu tốn $60.000\text{ USD/ngày}$, bãi rác Đa Phước tiêu tốn $48.000\text{ USD/ngày}$.
- Tắc nghẽn hệ thống cống rãnh và gây ô nhiễm kênh rạch.
- Phát sinh mùi hôi, nước rỉ rác sinh nấm mốc, vi trùng gây bệnh tả, da liễu.
Chương V: Công tác quản lý chất thải rắn
Chương V phân tích chi tiết quy trình lưu trữ, thu gom và xử lý rác:
- Lưu trữ và thu gom: Hộ gia đình dùng thùng nhựa, giỏ tre hoặc túi nilon; rác chợ bỏ tại lối đi; công sở thu gom qua hợp đồng công ích. Lực lượng thu gom gồm Công ty Môi trường Đô thị, Công ty Dịch vụ Công ích các quận/huyện, Hợp tác xã Công Nông, $120 - 150$ cơ sở tư nhân tái sinh phế liệu đô thị, $3 - 5$ công ty tư nhân xử lý rác công nghiệp nguy hại và hàng trăm cơ sở tư nhân tái chế.
- Hiện trạng các bãi chôn lấp:
- Bãi rác Đông Thạnh: Ngưng tiếp nhận rác sinh hoạt từ năm 2002, chỉ tiếp nhận chất thải xây dựng (xà bần: năm 2007 tiếp nhận 261.344 tấn; 6 tháng đầu năm 2008 tiếp nhận hơn 300.000 tấn). Nước rỉ rác do Công ty TNHH Môi trường Quốc Việt xử lý bằng công nghệ sinh học kết hợp hóa lý (năm 2007 xử lý $123.630\text{ m}^3$ đạt chuẩn xả ra sông Rạch Tra). Định kỳ phun thuốc diệt ruồi 1 lần/tuần.
- Bãi rác Gò Cát: Đóng cửa ngày 31/07/2007 sau khi đã tiếp nhận tổng cộng 5,6 triệu tấn rác. Nước rỉ rác xử lý qua 2 hệ thống: hệ thống Hà Lan viện trợ (công suất thiết kế $400\text{ m}^3/\text{ngày}$, vận hành thực tế đạt $60\text{ m}^3/\text{ngày}$) và nhà máy của Công ty SEEN ($200\text{ m}^3/\text{ngày}$). Tổng lượng nước rỉ rác xử lý từ năm 2006 đến tháng 06/2008 là $28.537\text{ m}^3$. Phun chế phẩm khử mùi hàng ngày.
- Khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Tây Bắc, Phước Hiệp (Củ Chi): BCL số 1 ($16\text{ ha}$, công suất $3.000\text{ tấn/ngày}$, đã nhận 2,7 triệu tấn, đã đóng bãi); BCL số 1A ($9,7\text{ ha}$, công suất $3.000\text{ tấn/ngày}$, đã nhận 900.000 tấn, đã đóng bãi); BCL số 2 (hoạt động từ 16/02/2008, đến tháng 07/2008 tiếp nhận gần 500.000 tấn). Sử dụng chế phẩm Enchoice và Ecozyme khử mùi nhiều lần trong ngày, phun diệt côn trùng 3 lần/tuần.
- Khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Đa Phước: Vận hành từ 01/07/2007, công suất tiếp nhận $3.000\text{ tấn/ngày}$, lũy kế đến tháng 06/2008 đạt 524,5 ngàn tấn. Đang xây dựng nhà máy tái chế, phân compost và trạm xử lý nước rỉ rác công suất $1.000\text{ m}^3/\text{ngày}$.
| Bãi chôn lấp (BCL) |
Thời gian hoạt động / Đóng cửa |
Khối lượng rác tiếp nhận |
Công tác xử lý nước rỉ rác & kiểm soát môi trường |
| Đông Thạnh |
Ngưng nhận rác sinh hoạt từ 2002; chỉ nhận xà bần |
Năm 2007 nhận 261.344 tấn xà bần; 6 tháng 2008 nhận >300.000 tấn |
Xử lý $123.630\text{ m}^3$ nước rỉ rác (2007) xả sông Rạch Tra; phun diệt ruồi 1 lần/tuần |
| Gò Cát |
Đóng cửa ngưng nhận rác từ 31/07/2007 |
Tổng khối lượng đã tiếp nhận: 5,6 triệu tấn |
Hệ thống Hà Lan ($60\text{ m}^3/\text{ngày}$) + Cty SEEN ($200\text{ m}^3/\text{ngày}$); xử lý $28.537\text{ m}^3$ (2006 - 06/2008) |
| Phước Hiệp (Củ Chi) |
- BCL số 1 & 1A: Đã đóng bãi - BCL số 2: Tiếp nhận từ 16/02/2008 |
- BCL 1: 2,7 triệu tấn - BCL 1A: 900.000 tấn - BCL 2: Gần 500.000 tấn (đến 07/2008) |
Khử mùi bằng Enchoice và Ecozyme nhiều lần/ngày; phun thuốc diệt côn trùng 3 lần/tuần |
| Đa Phước |
Vận hành tiếp nhận rác từ 01/07/2007 |
Tiếp nhận $3.000\text{ tấn/ngày}$; đến 06/2008 nhận 524,5 ngàn tấn |
Xây dựng trạm xử lý nước rỉ rác $1.000\text{ m}^3/\text{ngày}$; áp dụng công nghệ chôn lấp của Mỹ |
- Đánh giá hiệu quả: Khối lượng rác sinh hoạt thu gom giai đoạn 1992 - 2007 tăng gấp 4,6 lần (từ 424.807 tấn/năm lên 1.236.272 tấn/năm, tương ứng từ 1.164 tấn/ngày lên 5.200 tấn/ngày). Tỷ lệ thu gom toàn thành phố đạt khoảng $75%$. Năm 2005 có sự sụt giảm khối lượng thu gom ($1,07%$) do thành phố thực hiện tái cấu trúc, khoán thu gom và quản lý lại lực lượng rác dân lập, làm phát sinh khoảng $10%$ rác không được thu gom.
- Tồn đọng chính: Thiếu quy hoạch trạm trung chuyển; phương tiện thu gom thô sơ (xe ba gác, xe lam); bãi chôn lấp chưa an toàn tuyệt đối; chưa có nhà máy đốt rác sinh hoạt và rác công nghiệp tập trung.
Chương VI: Các giải pháp và kiến nghị về quản lý chất thải rắn tại TP.HCM
Chương VI đưa ra các giải pháp đồng bộ:
- Giải pháp thu gom và vận chuyển:
- Đẩy mạnh chương trình Phân loại chất thải rắn tại nguồn (PLCTRTN). Tác giả phân tích thất bại của đợt thí điểm tại Quận 6 (từ tháng 2/2006) do phương tiện thu gom thô sơ (trộn lẫn rác sau phân loại), thiếu quy chế chế tài, tuyên truyền chưa sâu rộng.
- Khi PLCTRTN thành công, thành phố có thể tận dụng $3.500\text{ tấn/ngày}$ rác hữu cơ làm phân compost chất lượng cao; giảm $70 - 80%$ rác hữu cơ (tương đương $50 - 60%$ tổng lượng rác vào bãi chôn lấp); giảm phát thải khí metan ($4\text{ USD/tấn}$).
- Đổi mới thời gian thu gom hộ gia đình và quét đường vào ban đêm; hoàn tất công tác vận chuyển rác bằng xe chuyên dụng có bạt che trước 7 giờ sáng; quy định ngày cố định hàng tháng để thu gom rác cồng kềnh.
- Đối với rác y tế, áp dụng phân loại túi màu theo kinh nghiệm của Thái Lan, Singapore; buộc ký hợp đồng xử lý với nhà máy đốt rác.
- Giải pháp công nghệ xử lý: Chuyển đổi công nghệ bãi chôn lấp hợp vệ sinh có kiểm soát đáy chống thấm; xây dựng lò đốt chuyên dụng cho rác y tế (thay vì chỉ dựa vào lò hỏa táng Bình Hưng Hòa); xây dựng nhà máy chế biến phân vi sinh compost.
- Đề xuất, kiến nghị:
- Lắp đặt thêm thùng rác công cộng trên các tuyến đường trung tâm và khu vực bến xe, chợ.
- Tổ chức khám sức khỏe định kỳ 6 tháng/lần và cấp trang phục phản quang an toàn cho công nhân vệ sinh.
- Đưa giáo dục môi trường vào chương trình từ bậc mầm non đến đại học; lồng ghép phong trào "Nếp sống văn minh đô thị" theo Quyết định số 311/QĐ-UBND.
- Triển khai chương trình 3T (Tiết giảm - Tái sử dụng - Tái chế).
- Phát huy vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ qua các phong trào "Ngày Chủ nhật xanh", "Đổi chất thải lấy đồ dùng".
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã tổng hợp và đưa ra các số liệu cụ thể về hiện trạng chất thải rắn và công tác xử lý tại TP.HCM:
| Chỉ tiêu thống kê |
Dữ liệu ghi nhận trong văn bản |
| Khối lượng rác sinh hoạt thu gom |
Tăng từ 424.807 tấn/năm (1992) lên 1.236.272 tấn/năm (2007) |
| Lượng rác bình quân ngày |
Tăng từ 1.164 tấn/ngày (1992) lên 5.200 tấn/ngày (2007) |
| Tỷ lệ thu gom toàn đô thị |
Đạt khoảng $75%$ (khu vực nội thành đạt cao hơn ngoại thành) |
| Tỷ lệ công nhân vệ sinh mắc bệnh |
$65%$ ($78/120$ người được khảo sát tại quận Bình Thạnh) |
| Chi phí xử lý rác tại bãi chôn lấp |
Phước Hiệp: $60.000\text{ USD/ngày}$; Đa Phước: $48.000\text{ USD/ngày}$ |
| Nhu cầu đất chôn lấp rác |
Cần $9 - 12\text{ ha/năm}$ đối với lượng rác $5.200\text{ tấn/ngày}$ |
| Phát thải rác bao bì nhựa (Phụ lục 1) |
Tiêu thụ 120 tấn bao bì/ngày (60% là nhựa, 80 tấn); thải ra 50 tấn rác nhựa/ngày; >10.000 cơ sở sản xuất túi nilon |
Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa dữ liệu chuyên ngành: Khóa luận xây dựng bức tranh toàn diện về hệ thống quản lý rác thải đô thị của TP.HCM trong giai đoạn chuyển đổi 1992 - 2008, kết nối giữa các yếu tố tự nhiên, tốc độ gia tăng dân số cơ học và tải lượng rác phát sinh.
- Cung cấp dữ liệu điều tra thực tế: Đóng góp số liệu khảo sát thực chứng về tình trạng sức khỏe của công nhân thu gom rác tại quận Bình Thạnh, phản ánh nguy cơ bệnh nghề nghiệp (da liễu, hô hấp, mắt, xương khớp).
- Đánh giá nguyên nhân đứt gãy trong phân loại rác: Chỉ ra điểm nghẽn của đề án phân loại rác tại nguồn tại Quận 6 là do thiếu sự đồng bộ giữa công đoạn phân loại của người dân và phương tiện thu gom của lực lượng rác dân lập.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
Tác giả tự nhìn nhận các hạn chế tồn tại trong nghiên cứu:
- Chưa đánh giá đầy đủ và sâu sắc hiện trạng chất thải rắn tại các vùng nông thôn ngoại thành của TP.HCM.
- Khi đánh giá tác hại của chất thải rắn đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng, khóa luận chủ yếu tiếp cận theo phương pháp định tính, chưa xây dựng được mô hình định lượng hóa mức độ phát tán ô nhiễm.
- Một số đề xuất, kiến nghị về chính sách và giải pháp công nghệ còn mang tính định hướng chung, chưa tính toán chi tiết bài toán chi phí - lợi ích và tính khả thi kỹ thuật.
Hướng nghiên cứu mở rộng
- Nghiên cứu chi tiết cơ chế quản lý và mạng lưới thu gom chất thải rắn khu vực ngoại thành và các vùng giáp ranh liên tỉnh.
- Xây dựng mô hình định lượng đánh giá mức độ ô nhiễm nước ngầm và phát thải khí bãi chôn lấp tại các bãi rác đã đóng cửa.
- Hoàn thiện mô hình kinh tế kỹ thuật cho các nhà máy sản xuất phân hữu cơ compost và lò đốt phát điện từ rác thải rắn đô thị.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Hóa Môi trường, Quản lý Môi trường, Khoa học Môi trường, Đô thị học và các cán bộ quản lý đô thị.
Các nội dung có giá trị sử dụng cao gồm:
- Chuỗi số liệu thống kê về khối lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom tại TP.HCM từ 1992 đến 2007.
- Báo cáo chi tiết về tình trạng vận hành, đóng bãi và công nghệ xử lý nước rỉ rác tại các bãi chôn lấp Đông Thạnh, Gò Cát, Phước Hiệp và Đa Phước.
- Phân tích thực tế về rào cản triển khai chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn cấp quận/huyện.
Câu hỏi thường gặp
1. Tốc độ gia tăng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom tại TP.HCM giai đoạn 1992 - 2007 diễn biến như thế nào?
Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM trong văn bản, lượng rác thu gom tăng từ 424.807 tấn/năm (1992) lên 1.236.272 tấn/năm (2007), tức tăng gấp 4,6 lần. Giai đoạn 1992 - 1996 tăng bình quân $26,12%/\text{năm}$, sau đó giảm nhẹ vào các năm 1997 (giảm $7,06%$) và 1998 (giảm $4,46%$) do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế khu vực; giai đoạn 2000 - 2004 tăng bình quân $10,7%/\text{năm}$, năm 2005 giảm $1,07%$ do tái cơ cấu hệ thống thu gom dân lập, và tiếp tục tăng trong các năm 2006 - 2007.
2. Kết quả khảo sát sức khỏe của công nhân vệ sinh tại quận Bình Thạnh ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh là bao nhiêu?
Khảo sát trực tiếp bằng phiếu hỏi trên mẫu $n = 120$ công nhân vệ sinh tại quận Bình Thạnh (thu về 120 phiếu) ghi nhận có 78 người từng mắc các bệnh liên quan đến nghề nghiệp (bệnh ngoài da, mắt, đường hô hấp, xương khớp), chiếm tỷ lệ $65%$.
3. Chi phí vận hành xử lý rác hàng ngày tại hai bãi chôn lấp Phước Hiệp và Đa Phước thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu?
Khóa luận tính toán chi phí xử lý rác mỗi ngày tại bãi chôn lấp Phước Hiệp là $60.000\text{ USD/ngày}$ và tại bãi chôn lấp Đa Phước là $48.000\text{ USD/ngày}$.
4. Vì sao chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn tại Quận 6 (từ tháng 02/2006) không đạt hiệu quả?
Khóa luận chỉ ra 4 nguyên nhân chính:
- Phương tiện thu gom chủ yếu là xe ba gác, xe lam cũ kỹ nên rác đã được hộ dân phân loại lại bị đổ lẫn vào nhau khi thu gom.
- Thành phố chậm ban hành quy chế phân loại rác tại nguồn, thiếu chế tài bắt buộc đối với người dân và đường dây rác dân lập.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến phương pháp và lợi ích của việc phân loại chưa sâu rộng đến từng hộ dân.
- Ý thức của người dân chưa cao do việc phân loại làm mất thời gian mà không đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp trước mắt.
5. Khối lượng bao bì nhựa và túi nilon phát thải mỗi ngày tại TP.HCM được văn bản ghi nhận ở mức nào?
Theo Phụ lục 1 trích dẫn số liệu từ Viện Kỹ thuật nhiệt đới và Bảo vệ môi trường, mỗi ngày TP.HCM sử dụng khoảng 120 tấn bao bì các loại, trong đó có 60% (80 tấn theo số liệu văn bản) là bao bì nhựa. Người dân thành phố thải ra khoảng 50 tấn rác thải từ bao bì nhựa mỗi ngày, trong bối cảnh có hơn 10.000 cơ sở tư nhân sản xuất túi nilon đang hoạt động trên địa bàn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Phạm Nhã Trúc đã phản ánh chân thực và chi tiết bức tranh quản lý chất thải rắn tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1992 - 2008. Thông qua việc tổng hợp dữ liệu thứ cấp kết hợp khảo sát thực tế, công trình đã làm rõ áp lực rác thải đô thị, đánh giá hiệu quả vận hành của các bãi chôn lấp tập trung và chỉ ra những hạn chế cốt lõi trong quy trình thu gom, phân loại tại nguồn. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất mang tính toàn diện, kết hợp giữa đổi mới công nghệ xử lý, hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao ý thức cộng đồng nhằm hướng tới mục tiêu phát triển đô thị bền vững.