chương 1 điều 3 khoản 15 Luật BVMT 2014; Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; Chỉ thị số 23/2015/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh công tác quản lý CTR 14 luan an tại các khu đô thị và công nghiệp;… cũng đưa ra các định nghĩa về quản lý CTR; nhất là tại chương 9 Luật BVMT 2014 có đề cập đến vấn đề quản lý chất thải. Theo đó ta có thể hiểu: Quản lý CTRTKCN tại Hà Nội hiện nay phải bao gồm các hoạt động: phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và xử lý, tiêu hủy các loại CTRTKCN. Hoạt động quản lý CTRTKCN bao gồm các hoạt động: quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe của con người. Cuối cùng là các hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình quản lý CTRTKCN.
Qua khái niệm này ta thấy quản lý CTRTKCN hiện nay ở nước ta được thể hiện ở các khía cạnh sau: * Chủ thể thực hiện quản lý CTRTKCN. Cũng giống như hoạt động quản lý chất thải nói chung, CTNH hay chất thải y tế nói riêng, quản lý CTRTKCN được thực hiện bởi hai nhóm chủ thể là nhà nước và các tổ chức, cá nhân. Nhà nước thực hiện quản lý CTRTKCN thông qua hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về BVMT. Đây là hệ thống cơ quan được tổ chức từ Trung ương đến địa phương, chịu trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện các hoạt động quản lý CTRTKCN của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, nhằm đạt đến những mục tiêu mà Nhà nước đặt ra.
Hoạt động của hệ thống các cơ quan này giữ vai trò quan trọng quyết định hiệu quả quản lý CTRTKCN trên thực tế. Không giống với các lĩnh vực khác, các vấn đề về quản lý chất thải, trong đó có CTRTKCN thường dẫn đến sự mâu thuẫn lợi ích giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; giữa lợi ích của từng tổ chức, cá nhân với lợi ích chung của cộng đồng. Vì thế, khó có thể trông chờ vào sự tự giải quyết của các bên mà cần có sự can thiệp mạnh mẽ mang tính tổ chức quyền lực. Không chủ thể nào có thể đảm nhiệm được vai trò này tốt hơn Nhà nước, với quyền lực và sức mạnh cưỡng chế của nó.
Cùng với Nhà nước, quản lý CTRTKCN còn được thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Đó là các chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, chủ xử lý 15 luan an CTRTKCN; cộng đồng dân cư. Nhóm chủ thể này thực hiện quản lý CTRTKCN thông qua việc áp dụng các biện pháp để giảm thiểu CTRTKCN, phân loại, thu gom, xử lý, tái chế CTRTKCN, hay giám sát việc thực hiện quản lý CTRTKCN của các chủ nguồn thải… Hiệu quả quản lý CTRTKCN cũng phụ thuộc không nhỏ vào mức độ và khả năng thực hiện các hoạt động quản lý của nhóm chủ thể này. * Mục đích quản lý CTRTKCN Mục đích của quản lý chất thải nói chung và CTRTKCN nói riêng là phòng ngừa nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường.
Nếu vì những lý do khác nhau mà tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra thì việc tiến hành các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, khôi phục lại môi trường đã bị ô nhiễm cũng là mục đích của quản lý CTRTKCN. * Nội dung của quản lý CTRTKCN. Nội dung của quản lý CTRTKCN mà chủ thể thực hiện phải phù hợp với từng giai đoạn cụ thể của quá trình quản lý. Có thể thực hiện việc quản lý từ giai đoạn đầu tiên của hoạt động phát thải CTRTKCN là quản lý tại nguồn.
Ở giai đoạn này chủ thể quản lý phải nắm bắt toàn bộ các thông tin về CTRTKCN như: Thông tin về số lượng nguồn phát sinh, lượng phát sinh, thành phần của CTRTKCN phát sinh. Sau đó là giai đoạn thu gom, vận chuyển. Sau khi CTRTKCN được phân loại, giảm thiểu tại nguồn sẽ được chuyển đến khu xử lý, đến trạm trung chuyển hoặc đến nơi tạm giữ CTRTKCN. Đến giai đoạn cuối là xử lý và tiêu hủy CTRTKCN.
Sau giai đoạn này một số CTRTKCN sau khi tái chế được vận chuyển đến nơi sử dụng, phần còn lại sau khi xử lý được đem thiêu hoặc chôn lấp. Từ khái niệm trên ta thấy để quản lý CTRTKCN thì cần phải: Có nguồn đầu tư, tập trung nguồn lực, khoa học kỹ thuật và nguồn tài chính lớn để xử lý, loại bỏ hoàn toàn các đặc tính nguy hại của CTNH như: dễ cháy, dễ nổ, dễ lây nhiễm… để biến nó thành CTRTT. Còn đối với công tác quản lý CTNH từ các khâu phân loại, thu gom, bảo quản, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy đều đòi hỏi nghiêm ngặt về công nghệ và kỹ thuật. CTNH phải được xử lý tuỳ theo tính chất và thành phần của từng loại CTNH.
Không thể xử lý hoặc tiêu hủy tất cả các loại CTNH phát sinh chỉ bằng một công nghệ. CTNH có những đặc tính lý hoá hoặc sinh học đòi hỏi phải có 16 luan an phương tiện vận chuyển và quy trình đặc biệt để xử lý nhằm tránh những rủi ro đối với môi trường và sức khoẻ con người. * Đối với quản lý CTNH đòi hỏi các chủ thể phải có một trình độ chuyên môn nhất định để nhận biết, kiểm soát và xử lý. Đáp ứng yêu cầu này là rất khó bởi không phải bất cứ Chủ nguồn thải nào cũng có đủ trình độ để nhận biết CTNH.
Quan niệm và vai trò của pháp luật về quản lý chất thải rắn trong khu công nghiệp 1. Quan niệm về pháp luật quản lý chất thải rắn trong khu công nghiệp So với các lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật môi trường là một lĩnh vực khá mới mẻ trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Các nhà luật học Australia, một trong những quốc gia tiên phong trong BVMT bằng pháp luật đã đánh giá rằng, không dễ dàng định nghĩa chính xác phạm vi của Luật môi trường như chúng ta có thể làm với Luật hợp đồng hay Luật về các vi phạm ngoài hợp đồng. Những lĩnh vực đó đã được định hình vững chắc bởi kinh nghiệm và án lệ qua nhiều thế kỷ.
Trong lúc đó, luật môi trường, nói một cách khái quát nhất, vẫn còn trong thời kỳ thơ ấu của nó, được nảy sinh chủ yếu bằng các hoạt động lập pháp của thế kỷ XX hơn là thông qua quá trình xử lý các nguyên tắc pháp lý thường xuyên được tôi luyện, gọt rũa trong các tòa án. Tuy nhiên, cũng có thể nhận thấy luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh những mối quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình con người khai thác, sử dụng hay tác động đến một hoặc một vài yếu tố khác nhau của môi trường, trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh, nhằm bảo vệ một cách hiệu quả môi trường sống của con người. Theo cách hiểu đó, hệ thống pháp luật môi trường được xây dựng và thực hiện không chỉ nhằm bảo đảm sự trong lành của môi trường, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà còn ngăn ngừa, hạn chế những ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người và môi trường từ các loại chất thải [32; 40]. Khái niệm "quản lý chất thải" được hiểu là tổng thể các hoạt động gồm phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải.
Trong xã hội hiện đại, việc đề cao ý thức BVMT và quản lý chất thải sao cho hợp lý, hiệu quả ngày càng được chú trọng. Thay cho những quy định còn sơ sài về nội dung này 17 luan an trong luật BVMT năm 1993, Luật BVMT năm 2005 và Luật BVMT 2014 được đánh giá là đã có những "bước tiến vượt bậc" trong vấn đề quản lý chất thải. Tại chương 1, điều 3, khoản 15 Luật BVMT 2014 định nghĩa: “Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải.” Theo đó: Hoạt động quản lý CTR bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường sống và sức khoẻ con người. Trong hệ thống văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành đã đề cập rất nhiều đến pháp luật về quản lý CTR nhất là quản lý CTRTKCN vì vậy ta có thể thấy được tầm quan trọng của việc quản lý CTRTKCN.
Do đó dựa vào các định nghĩa nêu trên ta có thể đưa ra định nghĩa về pháp luật về quản lý CTRTKCN như sau: Pháp luật về quản lý CTRTKCN là một hệ thống nguyên tắc, các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể phát sinh CTRTKCN với cơ quan quản lý nhà nước và với nhau để thực hiện liện tục các hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải rắn nhằm bảo vệ, tái tạo môi trường và bảo đảm nâng cao sức khỏe cộng đồng. Như vậy pháp luật về quản lý CTRTKCN gồm các nguyên tắc và chế định sau đây: 1. Các nguyên tắc của pháp luật quản lý CTRTKCN Là một bộ phận của pháp luật môi trường, ngoài những nguyên tắc chung (nguyên tắc đảm bảo quyền được sống trong một môi trường trong lành, nguyên tắc phòng ngừa, nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất trong quản lý môi trường, nguyên tắc PTBV) pháp luật quản lý chất thải còn có bốn nguyên tắc đặc thù sau: Nguyên tắc chi phí - lợi ích. Theo nguyên tắc này, tất cả các hoạt động quản lý chất thải bằng pháp luật phải được thực hiện trên cơ sở cân nhắc giữa chi phí để phục hồi môi trường, phục hồi sức khỏe con người,… với những lợi ích kinh tế từ việc tái chế, tái sử dụng hoặc xử lý, tiêu hủy chất thải.
18 luan an Nguyên tắc hạn chế phát thải.