Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về chất thải rắn công nghiệp tại khu công nghiệp. ix Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về chất thải rắn công nghiệp tại các khu công nghiệp ven biển trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chất thải rắn công nghiệp tại các khu công nghiệp ven biển trên địa bàn tỉnh Quảng Bình x CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP TẠI KHU CÔNG NGHIỆP 1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Một số nội dung liên quan về chất thải rắn công nghiệp 1.
Khái niệm chất thải, chất thải rắn Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (số 55/2014/QH13 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/6/2014): “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” Như vậy, chất thải là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người tác động vào thiên nhiên cũng như quá trình tiêu hoá con người thải ra. Thiên nhiên cả cây cỏ và động vật cũng thải ra môi trường từ lá rụng đến xác động vật. Con người tác động vào môi trường thực hiện quá trình sản xuất đã thải vào môi trường đủ các loại chất thải. Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”.
Chất thải rắn là các loại vật chất ở thể rắn như các vật liệu, đồ vật phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau đây: Hộ gia đình; các trung tâm thương mại; cơ quan (trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính…); các công trường xây dựng; dịch vụ công cộng và ở các khu công nghiệp. Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển. 1 Tái sử dụng chất thải là việc sử dụng lại chất thải một cách trực tiếp hoặc sau khi sơ chế mà không làm thay đổi tính chất của chất thải. Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ chất thải.
Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải. Khái niệm chất thải rắn công nghiệp Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu: “Chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.” Chất thải rắn công nghiệp được hiểu theo nghĩa chung nhất là các chất thải dạng rắn phát sinh từ các quá trình sản xuất, các sản phẩm phế thải của các hoạt động công nghiệp trong các nhà máy, xí nghiệp, các khu công nghiệp tập trung. Nguồn gốc, phân loại, thành phần chất thải rắn công nghiệp a. Nguồn gốc phát sinh Trong quá trình sản xuất, bất kỳ ngành công nghiệp nào cũng đều phát sinh chất thải rắn, bao gồm cả phế liệu và phế phẩm.
Thực tế cho thấy công nghệ sản xuất càng lạc hậu thì tỷ lệ chất thải rắn tính trên đầu sản phẩm càng lớn. Trong nền kinh tế quốc dân với nhiều ngành sản xuất công nghiệp, chất thải rắn phát sinh rất đa dạng và phức tạp về thành phần, khối lượng, nguồn phát sinh và mức độ nguy hại. Nguồn gốc phát sinh CTRCN được chia làm 3 ngành công nghiệp chính sau: - Ngành công nghiệp khai khoáng: các chất thải rắn phát sinh trong ngành công nghiệp này chính là các thành phần vật chất nằm trong các nguyên liệu tự nhiên. Các ngành công nghiệp khai thác mỏ than, khai thác gỗ, 2 khai thác đá và các vật liệu xây dựng khác là những nguồn phát sinh chất thải rắn với lượng đáng kể.
- Ngành công nghiệp cơ bản: sử dụng các nguyên vật liệu thô cơ bản từ công nghiệp khai khoáng để sản xuất thành các nguyên vật liệu tinh chế làm nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp khác sử dụng để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa. Các sản phẩm của ngành công nghiệp cơ bản bao gồm những vật liệu như là các thỏi, tấm, ống, dây kim loại; các hóa chất công nghiệp; than; giấy; vật liệu nhựa; thủy tinh; sợi tự nhiên và tổng hợp; gỗ xẻ, gỗ dán. So với chất thải rắn phát sinh từ công nghiệp khai khoáng, các chất thải rắn có nguồn phát sinh từ các ngành công nghiệp cơ bản có thành phần đa dạng hơn, và có tính chất khác biệt rõ rệt so với các nguyên liệu thô ban đầu. Tám ngành công nghiệp cơ bản được coi là nguồn chủ yếu phát sinh CTRCN bao gồm công nghiệp khai thác xử lý chế biến quặng kim loại, công nghiệp hóa chất, giấy, nhựa, thủy tinh, dệt, sản phẩm gỗ và năng lượng.
- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: sử dụng nguyên vật liệu đầu vào là các sản phẩm của công nghiệp cơ bản sản xuất ra các sản phẩm vô cùng đa dạng phục vụ cuộc sống của con người. Có thể kể ra các ngành công nghiệp chính như công nghiệp đóng gói, công nghiệp ôtô, điện tử, giấy, chế tạo máy móc, hàng gia dụng, thực phẩm và xây dựng. Trong các ngành công nghiệp này, giá trị đầu tư cho công nghệ là cao nhất so với hai ngành công nghiệp trên, với dây chuyền các quá trình sản xuất thường vô cùng phức tạp, nhiều công đoạn. Một đặc điểm quan trọng là trong sản phẩm đầu ra của một loại hình công nghiệp ngoài phần nguyên vật liệu chính còn có phần vật liệu không được sử dụng (vỏ hộp, bao bì, giá đỡ…) và thành phần này sẽ trở thành chất thải rắn.
Một đặc điểm khác đối với chất thải rắn phát sinh từ các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là các vật liệu dư thừa của các nguyên vật liệu cơ bản thường chiếm phần lớn nhất trong tổng khối lượng chất thải rắn phát sinh. Phân loại Theo tính chất, CTRCN được phân loại thành CTRCN không nguy hại hay còn gọi là CTRCN thông thường và CTRCN nguy hại. Chất thải rắn công nghiệp không nguy hại hay CTRCN thông thường là các chất thải rắn (dạng phế phẩm, phế liệu) từ quá trình sản xuất công nghiệp không gây nguy hại cho sức khỏe con người, không gây tai họa cho môi trường và các hệ sinh thái. Chất thải rắn công nghiệp không nguy hại được phân thành 03 nhóm chính là: - Nhóm chất thải rắn công nghiệp thông thường được tái sử dụng, tái chế làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất; - Nhóm chất thải rắn sử dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng và san lấp mặt bằng; - Nhóm chất thải rắn công nghiệp thông thường phải xử lý bằng các phương pháp đốt, chôn lấp, hoàn nguyên các khu vực đã kết thúc khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về khoáng sản và phương pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan.
Chất thải rắn công nghiệp nguy hại là các chất thải rắn (dạng phế phẩm, phế liệu hóa chất, vật liệu trung gian, .) sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp có đặc tính bắt lửa, dễ cháy nổ, dễ ăn mòn, chất thải gây độc hại cho con người và hệ sinh thái. Trong đó: - Chất thải rắn công nghiệp dễ nổ là các chất thải ở thể rắn mà bản thân chúng có thể nổ do kết quả của phản ứng hóa học (tiếp xúc với ngọn lửa, bị va đập hoặc ma sát) tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường xung quanh. - Chất thải rắn công nghiệp dễ cháy là các chất thải rắn công nghiệp có khả năng sẵn sàng bốc cháy hoặc phát lửa do bị ma sát trong các điều kiện vận chuyển. 4 - Chất thải rắn công nghiệp có khả năng tự bốc cháy: là chất thải rắn có thể tự nóng lên trong điều kiện vận chuyển bình thường hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí và có khả năng bắt lửa.
- Chất thải rắn công nghiệp dễ ăn mòn là các chất thải thông qua phản ứng hóa học, sẽ gây tổn thương nghiêm trọng các mô sống khi tiếp xúc hoặc trong trường hợp bị rò rỉ sẽ phá hủy các loại vật liệu, hàng hóa và phương tiện vận chuyển. - Chất thải rắn công nghiệp có có độc tính là các chất thải chứa các vi sinh vật hoặc độc tố được cho là gây bệnh cho con người hoặc động vật. Thành phần chất thải rắn công nghiệp Tùy theo loại hình công nghiệp, theo loại sản phẩm tạo ra, quy mô, mức độ yêu cầu về số lượng và chất lượng của sản phẩm và quy trình công nghệ sẽ quyết định khối lượng và thành phần chất thải rắn tạo thành. Các ngành công nghiệp khác nhau sẽ sử dụng các nguyên vật liệu đầu vào khác nhau, cùng với các tác động lên nguyên liệu một cách khác nhau nên chất thải rắn phát sinh sẽ mang những đặc tính của nguyên liệu đầu vào và quá trình công nghệ.
Ví dụ về thành phần chất thải rắn công nghiệp thông thường được trình bày cụ thể ở Phụ lục 4. Thành phần chính của chất thải rắn công nghiệp nguy hại bao gồm: Giẻ lau dính dầu mỡ, dầu mỡ thải, bóng đèn huỳnh quang, vỏ bao bì chứa chất thải nguy hại, pin hư hỏng. Mức độ phát sinh chất thải rắn công nghiệp nguy hại trong các KCN tùy thuộc vào loại hình sản xuất chủ yếu. Ảnh hưởng của chất thải rắn công nghiệp đến môi trường và sức khỏe cộng đồng a.
Tác động của chất thải rắn công nghiệp đối với môi trường Chất thải rắn công nghiệp đặc biệt là chất thải rắn công nghiệp nguy hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nếu không được xử lý hợp vệ sinh, mối nguy hại của chất thải công nghiệp đối với môi trường sẽ vô cùng lớn. 5 Chất thải rắn công nghiệp nếu không được xử lý theo đúng quy định có thể gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, ô nhiễm nước.