CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 1.1 Khái niệm về chất thải: - Chất thải: là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc trong các hoạt động khác. Chất thải có thể ở dạng rắn, khí, lỏng hoặc các dạng khác [4]. + Chất thải công nghiệp, xây dựng: chất thải công nghiệp là tất cả các loại chất thải loại ra từ dây chuyền sản xuất của các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp [9]. Chất thải xây dựng bao gồm các phế thải được loại ra từ quá trình xây dựng, các công trình dân dụng: công nghiệp an ninh quốc phòng, hạ tầng kỹ thuật cũng như các công trình xây dựng khác.
+ Chất thải y tế: gồm tất cả các chất thải phát sinh trong hoạt động của bệnh viện và các cơ sở y tế. Trong chất thải ở bệnh viện có chất thải nguy hại phát sinh từ các hoạt động chuyên môn, trong quá trình khám chữa bệnh, xét nghiệm tại bệnh viện và các cơ sở y tế [13]. + Chất thải nông nghiệp: là tất cả các chất thải phát sinh trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, đây chủ yếu là rác thải hữu cơ đốt cháy được. Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay ở các địa phương việc lạm dụng phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật đang trở lên phổ biến, những tàn dư này đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đất, nước và sản phẩm nông nghiệp [13].
+ Chất thải sinh hoạt: chất thải sinh hoạt là các loại chất thải phát sinh trong mọi hoạt động của con người ở gia đình, công sở, trường học, khu vực đóng quân 4 của lực lượng vũ trang, chợ, trung tâm thương mại, khu du lịch, các nơi sinh hoạt và vui chơi giải trí công cộng [13]. Phân loại chất thải rắn. Tùy thuộc vào mục đích xử lý, sử dụng chất thải mà áp dụng các chách phân loại khác nhau, nói chung thường phân loại theo các cách sau: phân loại theo thành phần, phân loại theo mức độ nguy hại, phân loại theo nguồn phát sinh. - Phân loại theo thành phần: + Chất thải có nguồn gốc hữu cơ: là tất cả các loại chất thải có thành phần chủ yếu là các chất hữu cơ, đặc biệt có thể dẽ dàng phân hủy, ủ sinh học để chế biến thành phân vi sinh.
+ Chất thải có nguồn gốc vô cơ: là tất cả các loại chất thải rắn có thành phần chủ yếu là các chất vô cơ, đặc điểm là các chất thải rắn dạng này khó phân hủy tự nhiên, phương pháp xử lý chủ yếu là đốt, chôn lấp, tái chế. - Phân loại theo mức độ nguy hại: + Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc các hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm độc hại, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm.) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người [8]. Chất thải nguy hại được phát sinh ra từ công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, công sở, cửa hiệu, nhà trường, bệnh viện, các phòng khắm và điều trị của bác sĩ, nha sĩ, các hộ dân trong cộng đồng. + Chất thải ít nguy hại: tất cả các chất thải không thuộc chất thải nguy hại đều là chất thải ít nguy hại.
Tỷ trọng chất thải ít nguy hại tùy thuộc vào từng khu vực, từng đô thị và từng mùa. Khi hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển và mức độ tiêu dùng tăng thì khối lượng chất thải đô thị bình quân trên đầu người tăng dần [13]. Chất thải sinh hoạt và ô nhiễm môi trường.1 Tác hại của chất thải sinh hoạt tới môi trường nước. Chất thải rắn không được thu gom thải vào kênh rạch, sông, hồ gây ô nhiễm môi trường nước, làm tắc nghẽ dòng chảy, giảm diện tích của nước tiếp xúc với không khí dẫn đến giảm DO trong nước , chất thải hữu cơ phân hủy trong nước gây mùi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy giảm.
CTR phân hủy và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu đen. Nếu rác thải có chứa kim loại nặng, nồng độ kim loại nặng trong giai đoạn lên men axit sẽ cao hơn so với giai đoạn lên men mêtan. Vì vậy, khi kiểm soát chất lượng nước ngầm trong khu vực bãi rác phải kiểm tra xác định nồng độ kim loại nặng trong thành phần nước ngầm. Ngoài ra, nước rò rỉ có thể chứa các hợp chất hữu cơ độc hại như: các chất hữu cơ bị halogen hóa, các hydrocarbon đa vòng thơm.
chúng có thể gây đột biến gen, gây ung thư. Các chất nầy nếu thấm vào tầng nước ngầm hoặc nước mặt sẽ xâm nhập vào chuỗi thức ăn, gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho sức khỏe, sinh mạng của con người hiện tại và cả thế hệ con cháu mai sau [1].2 Tác hại của chất thải sinh hoạt tới môi trường không khí. Các loại chất thải dễ phân hủy (như: thực phẩm, trái cây hỏng,.), trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (nhiệt độ tốt nhất 35 0C và độ ẩm 70-80%)sẽ được các vi sin vật phân hủy tạo mù hôi và nhiều loại khí ô nhiễm khác có tác động sấu đến môi trường, sức khỏe và khả năng hoạt động của con người [1].1: Thành phần một số chất khí cơ bản trong khí thải bãi rác [12] Thành phần khí % Thể tích - CH 4 45-60 - CO 2 40-60 - N2 2-5 6 - O2 0,1-1,0 - NH 3 0,1-1,0 - SO x , H 2 S, Mercaptan. 0-1,0 - H2 0-0,2 -CO 0-0,2 -Chất hữu cơ bay hơi vi lượng 0,01-0,6 Bảng 1.2: Diễn biến thành phần khí thải bãi rác [12] Khoảng thời gian từ lúc % Trung bình theo thể tích hoàn thành chôn lấp (Tháng) N2 CO 2 CH 4 0-3 5,2 88 5 3-6 3,8 76 21 6-12 0,4 65 29 12-18 1,1 52 40 18-24 0,4 53 47 24-30 0,2 52 48 30-36 1,3 46 51 36-42 0,9 50 47 42-48 0,4 51 48 Bảng 1.2 Cho thấy: nồng độ CO 2 trong khí thải bãi rác khá cao, đặc biệt trong 3 tháng đầu tiên.
Khí CH 4 được hình thành trong điều kiện phân hủy kỵ khí, chỉ tăng nhanh từ tháng 6 trở đi và đạt cực đại vào các tháng 30 - 36. Do vậy, đối với các bãi chôn rác có qui mô lớn đang hoạt động hoặc đã hoàn tất công việc chôn lấp nhiều năm, cần kiểm tra nồng độ khí CH 4 để hạn chế khả năng gây cháy nổ tại khu vực.3 Tác hại của chất thải sinh hoạt tới môi trường đất. Các chất thải hữu cơ sẽ được vi sinh vật phân hủy trong môi trường đất trong hai điều kiện hiếu khí và kỵ khí, khi có độ ẩm thích hợp sẽ tạo ra hàng loạt các sản phẩm trung gian, cuối cùng hình thành các chất khoáng đơn giản, nước, CO 2 , CH 4. Với một lượng rác thải và nước rò rỉ vừa phải thì khả năng tự làm sạch của môi trường đất sẽ phân hủy các chất nầy trở thành các chất ít ô nhiễm hoặc không ô nhiễm.
Nhưng với lượng rác quá lớn vượt quá khả năng tự làm sạch của đất thì môi trường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm. Các chất ô nhiễm nầy cùng với kim loại nặng, các chất độc hại và các vi trùng theo nước trong đất chảy xuống nguồn nước ngầm làm ô nhiễm tầng nước này. Đối với rác không phân hủy (nhựa, cao su,.) nếu không có giải pháp xử lý thích hợp là nguy cơ gây thoái hóa và giảm độ phì của đất. Tác hại của chất thải sinh hoạt tới đến cảnh quan và sức khoẻ công đồng.
Chất thải rắn phát sinh từ các khu đô thị, nếu không được thu gom và xử lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng dân cư và làm mất mỹ quan đô thị. Thành phần chất thải rắn rất phức tạp, trong đó có chứa các mầm bệnh từ người hoặc gia súc, các chất thải hữu cơ, xác súc vật chết. tạo điều kiện tốt cho muỗi, chuột, ruồi. sinh sản và lây lan mầm bệnh cho người, nhiều lúc trở thành dịch.
Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng. tồn tại trong rác có thể gây bệnh cho con người như bệnh: sốt rét, bệnh ngoài da, dịch hạch, thương hàn, phó thương hàn, tiêu chảy, giun sán, lao. Phân loại, thu gom và xử lý rác không đúng qui định là nguy cơ gây bệnh nguy hiểm cho công nhân vệ sinh, người bới rác, nhất là khi gặp phải các CTR 8 nguy hại từ y tế, công nghiệp như: kim tiêm, ống chích, mầm bệnh, hợp chất hữu cơ bị halogen hóa. Tại các bãi rác lộ thiên, nếu không được quản lý tốt sẽ gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho bãi rác và công đồng dân cư trong khu vực: gây ô nhiễm không khí, các nguồn nước, ô nhiễm đất và là nơi nuôi dưỡng các vật chủ trung gian truyền bệnh cho người.
Rác thải sinh hoạt 1. Đặc điểm Rác thải sinh hoạt là các chất thải bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, sản xuất của con người và động vật. Rác thải sinh hoạt của một quá trình sản xuất này có thể là nguyên liệu cho quá trình sản xuất khác. Rác thải sinh hoạt có thể định nghĩa là bao gồm tất cả các rác thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật đươc thải bỏ khi không còn hữu dụng hay không mong muốn dùng nữa.
Vì vậy, khái niệm rác thải sinh hoạt cũng là ttương đối. Đi kèm với rác thải sinh hoạt là rác thải sản xuất [13]. Ngày nay cùng với sự phát triển và tăng dân số, con người đã không ngừng xả rác thải gây ô nhiễm môi trường, làm mất cân bằng sinh thái. Rác thải sinh hoạt được hình thành trong mọi hoạt động của con người, trong sản xuất., thải ra khắp mọi nơi, khó có thể định lượng được.
Như vậy, nơi nào có hiện diện của con người nơi đó có khả năng tạo ra rác thải sinh hoạt. Thu gom rác thải sinh hoạt trong khu dân cư là việc làm không đơn giản và ước tính lượng rác thải phát sinh để quy hoạch đất dành cho bãi rác là quan trọng [13]. Nguồn phát sinh rác thải rắn sinh hoạt. a, Các nguồn chủ yếu phát sinh ra rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư; chợ, công sở, trường học, công trình công cộng.
9 b, Loại rác thải này được phân loại theo nhiều cách, sau đây là một số cách phân loại đang được áp dung hiện nay: + Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt rác thải sinh hoạt trong nhà, ngoài nhà, nơi công cộng.