Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng giáo dục tại trường mầm non. Chương 2: Thực trạng chất lượng giáo dục và quản lý chất lượng giáo dục mầm non tại trường Mẫu giáo Việt-Triều hữu nghị thành phố Hà Nội. Chương 3: Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDMN tại trường Mẫu giáo Việt – Triều hữu nghị thành phố Hà Nội. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC TẠI TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan các nghiên cứu về quản lý chất lƣợng giáo dục mầm non Cùng với sự phát triển của khoa học quản lý GD, rất nhiều nhà khoa học đã đầu tư công sức, trí tuệ để nghiên cứu và tổng kết những vấn đề lý luận liên quan đến quản lý và nâng cao chất lượng GD. Có thể kể tên một số nhà khoa học tiêu biểu như: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Văn Lê, Hồ Sĩ Thế. Nhiều công trình nghiên cứu cũng nhấn mạnh: các nhà quản lý GD phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng điều hành và quản lý của mình để qua đó tác động một cách hiệu quả vào quá trình cải tiến chất lượng ở các khâu, các bộ phận của hệ thống GD. GDMN là bậc học nền tảng, là khâu đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ.
Trước những thời cơ và thách thức mới đặt ra cho bậc học MN trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ CBQL trường mầm non cũng dành nhiều tâm huyết quan tâm, tìm hiểu nghiên cứu về các biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng GD của nhà trường tại nơi các tác giả công tác. Bên cạnh đó Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và chính sách nhấn mạnh vai trò quốc sách hàng đầu của GD; trong đó, đặc biệt quan tâm đến GDMN. Rất nhiều các văn bản, chính sách của Nhà nước có liên quan đến sự phát triển GDMN lần lượt ra đời làm cơ sở cho những bước vận động và phát triển vững chắc trên cả ba phương diện quy mô, chất lượng và công bằng xã hội cho GDMN. Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX đều nhấn mạnh nhiệm vụ “Chăm lo phát triển giáo dục mầm non”.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người 2003 - 2015” với mục tiêu đảm bảo tất cả trẻ em đều hoàn thành một năm giáo dục tiền học đường có chất lượng để chuẩn bị đi học tiểu học [17],[13]. Từ sau Đại hội lần thứ XI của Đảng, vấn đề giáo dục trong đó có giáo dục MN luôn được Đảng quan tâm. Trên các Nghị quyết và Quyết định của các Đại hội Đảng, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng thể hiện: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo, tiếp tục chú trọng, cải tiến nâng cao CLGD toàn diện, xây dựng nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH. - Chuẩn hóa từ chương trình, nội dung giảng dạy, sách giáo khoa, và qui trình kiểm tra, đánh giá chất lượng GD&ĐT, đến chuẩn hóa tiêu chí đánh giá sản phẩm cuối cùng của giáo dục là con người; chuẩn hóa đội ngũ GV đạt chuẩn đào tạo theo các tiêu chuẩn phẩm chất và năng lực nghề nghiệp; chuẩn hóa về CSVC, trường lớp, các trang thiết bị dạy học cho tất cả các cấp bậc học.
- XHHGD: coi sự nghiệp giáo dục và đào tạo không chỉ là nhiện vụ của ngành giáo dục mà còn là nhiệm vụ của toàn XH, động viên sự tham gia của XH vào làm công tác giáo dục, xây dựng CSVC, môi trường giáo dục. đẩy mạnh đa dạng hóa các loại hình, tạo sự bình đẳng trong tiếp cận, tham gia vào quá trình GD. Thực hiện đối xử công bằng với tất cả người học, duy trì chính sách hỗ trợ cho các khu vực khó khăn, đối tượng chính sách XH có điều kiện đặc biệt, tăng cường cơ hội học tập cho trẻ em. Các quan điểm của Đảng được thể hiện trong một số văn bản của Nhà nước: - Luật Giáo dục (2005) ở các Điều 21, 22, 23, 24, 25 cụ thể hóa mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình và các cơ sở giáo dục mầm non [28].
- Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) đã nêu trẻ em có quyền được chăm sóc ở các điều 5, 12, 17, 18, 28 [29]. - Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao đề ra những yêu cầu cụ thể nhằm phát huy nội lực của toàn XH đi đôi với việc sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước dành cho GD, tạo điều kiện cho GDMN ngày càng đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về quy mô, chất lượng và công bằng trong phát triển [9]. - Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển GDMN giai đoạn 2006-2015 nêu rõ: “Nhà nước có trách nhiệm quản lý, tăng cường đầu tư cho GDMN; hỗ trợ CSVC, đào tạo đội ngũ nhà giáo; đồng thời đẩy mạnh XHH, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để mọi tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển GDMN. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho các vùng có điều kiện kinh tế XH khó khăn; từng bước thực hiện đổi 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mới nội dung, phương pháp GDMN, gắn với đổi mới giáo dục phổ thông chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1, góp phần tích cực, thiết thực nâng cao CLGD” [10].
Năm 1994 trường CĐSP nhà trẻ- mẫu giáo Trung ương số 1 cho ấn phẩm tài liệu “Quản lý giáo dục mầm non” đã đề cập khá nhiều về nguyên tắc, phương pháp, cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, năng lực, phẩm chất nhân cách khi tham gia vào công tác quản lý trong các cơ sở GDMN [16]. Riêng về quản lý CLGDMN có các văn bản, tài liệu, công trình nghiên cứu như sau: Lê Thu Hương ở Trung tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển chương trình giáo dục mầm non về “Những điểm mới của chương trình giáo dục mầm non”. Năm 2006 có báo cáo tổng kết đề tài “Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục mầm non” của Trần Lan Hương chủ nhiệm đề tài [20],[23]. Năm 2004 có báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc nâng cao chất lượng chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ 3-6 tuổi trong trường mầm non” của Lê Thu Hương.
Tháng 7/2005 tại hội thảo đánh giá chất lượng giáo dục lý luận và thực tiễn, Nguyễn Văn Lê, giảng viên trường Cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương 1 báo cáo đề tài “Một số vấn đề về chất lượng giáo dục mầm non” [19],[25]. Một số luận văn thạc sĩ khoa học QLGD đã nghiên cứu về QLCLGD tại các cơ sở GDMN tiêu biểu như: “Biện pháp quản lý giáo dục mầm non tư thục ở Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ” (tác giả Nguyễn Thị Hoài An- 1998), “Giải pháp thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục của ngành học mầm non trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng”(tác giả Võ Ngọc Hoa- Phó Chủ tịch UBND quận Thanh Khê- 2004) và năm 2006 có luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Châu với đề tài “Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng”…. Dưới góc độ, phạm vi thực tiễn nhất định, mỗi công trình nghiên cứu vừa kể trên đều bàn về CLGD đề xuất các biện pháp QLGDMN [21],[22],[14]. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi đề xuất tiến hành nghiên cứu “Quản lý chất lượng giáo dục mầm non tại trường Mẫu giáo Việt-Triều hữu nghị thành phố Hà Nội” đề tài sẽ đưa ra thực trạng QLCLGD tại trường Mẫu giáo Việt-Triều hữu nghị thành phố Hà Nội và đề xuất các biện pháp QLCLGD có tính cấp thiết, tính khả 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thi phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương trong công tác QLCLGD phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của XH hiện nay.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường a. Quản lý QL là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ XH, của mọi quốc gia trong mọi thời đại, trong quá trình hình thành và phát triển của lý luận QL, khái niệm QL đã được các nhà nghiên cứu đưa ra theo nhiều cách khác nhau, tùy theo những tiếp cận khác nhau: Theo từ điển Tiếng Việt, “QL là hoạt động hay tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể QL (người quản lý) đến khách thể QL (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” “QL là dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [30].
Trần Kiểm quan niệm: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [24]. Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa: “Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người quản lý) đến khách thể QL (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [15]. Có thể nói ngắn gọn rằng, QL là một khái niệm chứa trong mình các thành tố: Chủ thể QL, khách thể QL và mục tiêu QL phụ thuộc vào công cụ QL và phương pháp QL. Song chúng ta nhận diện các dạng QL thông qua nội hàm của các thành tố chủ thể QL, khách thể QL và mục tiêu QL mà quá trình QL hướng tới.
Vì vậy, QL vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.