Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng đào tạo giáo viên của các trường đại học. Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo giáo viên của các trường đại học nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Chương 3: Các giải pháp quản lý chất lượng đào tạo giáo viên của các trường đại học nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. luan an 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN CỦA CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Vấn đề QLCL đào tạo của trường ĐH đang được các nhà nghiên cứu quan tâm. QLCL đào tạo đã và đang được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu và tìm hiểu với nhiều góc độ khác nhau. Thuật ngữ CL xuất hiện từ đầu thế kỷ XX, xuất phát từ QL sản xuất công nghiệp.
Từ đó, CL đã thu hút sự quan tâm của chính phủ quốc gia, các nhà QL sản xuất và người tiêu dùng… FW. Taylor đã đề xuất các phương pháp tiếp cận khoa học mới để QL dựa trên phân chia lao động một cách nghiêm ngặt nhằm giải quyết khối lượng sản xuất ngày càng lớn và sự phá vỡ các công việc thành các nhiệm vụ nhỏ hơn và công việc bằng tay lặp đi lặp lại được xử lý thay thế bằng máy, vai trò của người lao động tự kiểm tra CL đã được giảm xuống. Tuy nhiên trong giai đoạn này, trách nhiệm về CL vẫn gắn liền với người lao động. Giai đoạn sau này đòi hỏi cấp thiết phải kiểm tra các sản phẩm để đảm bảo chúng phù hợp thông số kỹ thuật trước khi sản phẩm rời nhà máy, đây chính là "kiểm soát CL".
Về sau, cùng với sự phát triển KT - XH, ở châu Âu và châu Mỹ đã xuất hiện một số lý thuyết và mô hình QLCL nổi tiếng trên thế giới như “Tiêu chuẩn hoá quốc tế dành cho các cơ quan, tổ chức (ISO), QLCL tổng thể (TQM)”… Một số mô hình xuất phát từ kinh doanh và công nghiệp đã được đưa vào GD như Mô hình QLCL các trường ĐH khu vực Đông Nam Á (AUN-QA). Ở Châu Âu tồn tại 2 mô hình QLCL đó là mô hình Pháp và mô hình Anh. Trong mô hình của Pháp, QLCL được xem xét và điều khiển bởi một cơ quan bên ngoài. Mô hình Pháp có thể được coi là mô hình ĐG CL về trách nhiệm, quyền quyết định những gì nên được giảng dạy và người có thể được phép giảng dạy tại các trường ĐH.
Khác với mô hình Pháp, mô hình Anh là một cơ sở tự điều tiết được. Mô hình Anh được coi là ĐG CL phương tiện ĐG đồng đẳng. Cả hai mô hình QLCL của Pháp (cung cấp luan an 9 trách nhiệm giải trình) và Anh (ĐG đồng đẳng) là rất quan trọng của hệ thống QLCL hiện đại. Cho đến nay, hai mô hình này vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong ngành GD.
Đối với lịch sử của QLCL đã luôn luôn có cả CL bên trong và bên ngoài. Những phẩm chất bên trong cố gắng tìm cách đáp ứng với yêu cầu của người học về kiến thức, kỹ năng. Những phẩm chất bên ngoài được liên kết với các dịch vụ cơ sở GD cung cấp cho xã hội [113]. Cả hai hệ thống CL bên trong và bên ngoài nếu có sự kết hợp chặt chẽ sẽ hỗ trợ các cơ sở GDĐH trong việc duy trì vị trí của họ trong lịch sử và xã hội.
Ngành GD ở Anh kể từ giữa những năm 1980 đã di chuyển nhanh chóng từ tự quy định sang một hệ thống hỗn hợp và áp đặt từ bên ngoài của các cơ quan kiểm soát bên ngoài. CLGD ĐH ở Anh đã được tuyên bố là một mục tiêu quan trọng. Ở Hà Lan, chính phủ đã thông qua chính sách CLGD, xem CLGD là yếu tố đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển GD. Ở một số quốc gia như Đan Mạch, Phần Lan, Tây Ban Nha và nhiều nước khác đã bước đầu thực hiện hệ thống ĐG CLGD.
Đến cuối thế kỷ XX đã có hơn 100 nước trên thế giới có hệ thống QLCL để đáp ứng với sự phát triển về quy mô của GD và những thay đổi trong hệ thống GD trong bối cảnh toàn cầu hóa, nền kinh tế tri thức, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ. Ở các quốc gia, căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình, QLCL được nhận thức và thực hiện khác nhau. Chẳng hạn, ở Mỹ, QLCL được xem là một quy trình ĐG một cơ sở hay một chương trình nhằm xác định xem các tiêu chuẩn về GD, học thuật và cơ sở hạ tầng có được duy trì và tăng cường hay không? [89]. Ở Úc, QLCL bao gồm các chính sách, thái độ, hành động và quy trình cấp thiết để đảm bảo rằng CL đã và đang được duy trì và nâng cao [85].
QLCL ở nước Anh được xem là một công cụ, qua đó cơ sở GD khẳng định rằng các điều kiện dành cho SV đã đạt được các tiêu chuẩn do nhà trường hay cơ quan có thẩm quyền đề ra [89]. Đối với nhiều nước châu Âu, QLCL được xem như là một hệ thống ĐG ở bên ngoài, và nó không cần một sự công nhận chính thức các kết quả đạt được. Nhưng một xu hướng khác mới được hình thành nhằm xúc tiến xây dựng hệ thống kiểm định trong mỗi quốc gia. Ở các nước Đông Nam Á, việc QLCL cũng có sự khác nhau.
Điển hình ở Thái luan an 10 Lan, QLCL là việc được giới thiệu qua hệ thống kiểm tra CL nhà trường, kiểm toán CL bên ngoài và được kiểm định, công nhận, nhằm vào các mục tiêu GD, sự thực hiện và các kết quả học tập hay các chỉ số và sự phát triển. Riêng ở Indonesia, QLCL lại được xác định thông qua kiểm tra nội bộ đối với các chương trình học, những quy định của chính phủ và cơ chế thị trường, kiểm định công nhận [96]. Một số nước Đông Nam Á cũng đã thành lập cơ quan kiểm định quốc gia như: LAN (Malaysia), ON SQA (Thái Lan), BDAC (Brunei), BAN-PT (Indonesia), FAAP (PhiliPines). Trọng tâm kiểm định của mỗi quốc gia không giống nhau.
Một số nước như Indonesia thực hiện kiểm định ở cấp chương trình trong khi đó Malaysia, Brunei và Thái Lan lại thực hiện kiểm định ở cấp trường. Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, hầu hết các cơ quan QLCL quốc gia đều do nhà nước thành lập, được nhà nước cấp kinh phí và chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ kiểm định [99]. Những điều trên cho thấy QLCL được nhiều nước trên thế giới quan tâm nhằm duy trì các chuẩn mực và không ngừng cải thiện CL. Nó được thực hiện ở các cấp độ và các cách thức khác nhau tùy thuộc vào văn hoá và tình hình phát triển KT - XH của mỗi nước.
QLCL là một lĩnh vực còn non trẻ của khoa học QL, mới được ra đời từ những năm 20 của thế kỷ trước, nhưng với tầm quan trọng và hiệu quả của nó, đã được nhiều nhà khoa học và nhà QL quan tâm nên đã phát triển nhanh chóng trong những thập kỷ qua [25]. Lịch sử nghiên cứu và sự phát triển của khoa học QLCL trên thế giới đã được Tery Richardson (1997) tổng kết và mô tả qua các giai đoạn trong thế kỷ 20 như sau [111]: + Quá trình phát triển của khoa học QLCL: Thứ nhất, kiểm soát CL (Shewhart) thập kỷ 20 Thứ hai, kiểm soát quá trình (Deming, Shewhart), thập kỷ 30 Thứ ba, cải tiến quá trình (Deming, Juran, Ohno…) thập kỷ 40 Thứ tư, kiểm soát CL tổng thể (Feijgenbaum, Juran), thập kỷ 50 Thứ năm, đảm bảo lượng (Deming, Juran), thập kỷ 60 Thứ sáu, không lỗi (Crosby, Ohno), thập kỷ 70 Thứ bảy, QLCL tổng thể, (Deming, Crosby) thập kỷ 80 luan an 11 QLCL là sự QL lấy CL làm mục đích cuối cùng. Thuật ngữ QLCL được xuất hiện trước tiên trong QL sản xuất và ngày nay được áp dụng phổ biến trong QLGD. QLCL theo ISO, là cách hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về CL [48].
QLCL bao gồm việc thiết lập các chính sách và mục tiêu CL, hoạch định CL, kiểm soát các yếu tố tạo nên CL để không ngừng cải tiến CL. Ngày nay, trong cơ chế thị trường cạnh tranh CL được coi như một triết lý, là sự sống còn của mọi tổ chức. CL không tự nó sinh ra mà phụ thuộc vào sự QL của tổ chức. - Crosby đã đưa ra 14 bước về QLCL như sau [90]: Bƣớc 1: Cam kết QL: Nhà QL phải cam kết về CL để thuyết phục nhân viên và khách hàng; Bƣớc 2: Nhóm cải tiến CL: Các doanh nghiệp (DN) phải hình thành các nhóm cải tiến CL đại diện cho DN; Bƣớc 3: Đo lường CL: Đo lường CL phải được thực hiện để xác định nơi tồn tại những vấn đề trong hiện tại và tiềm ẩn; Bƣớc 4: Chi phí của CL: Sử dụng các chi phí về CL như một công cụ QL.