mở đầu cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn về công tác quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ sau này. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm trẻ tự kỉ Ngay từ những năm 1774, những ghi chép và mô tả về rối loạn phổ tự kỉ đã đƣợc ghi lại bởi bác sĩ ngƣời Pháp Jean Marc Itard, với các biểu hiện nhƣ hạn chế trong việc hiểu và biểu đạt ngôn ngữ có lời cũng nhƣ không lời, khả năng nhận thức và ngôn ngữ hạn chế, các hành vi thích ứng môi trƣờng xung quanh không phù hợp với các tình huống xã hội. Nhƣng mãi đến năm 1943, khái niệm chính thức về“tự kỉ” mới đƣợc Kanner đƣa ra với nội dung: Tự kỉ là sự rút lui quá mức của một số trẻ em từ lúc mới bắt đầu cuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh là những trẻ này không có khả năng trong việc thiết lập các mối quan hệ bình thƣờng với những ngƣời khác và hành động một cách bình thƣờng với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống.
12 Theo ICD-10 định nghĩa: “Tự kỉ là một rối loạn lan tỏa phát triển đƣợc xác định bởi một sự phát triển không bình thƣờng và hay giảm sút biểu hiện rõ rệt trƣớc ba tuổi, bởi một hoạt động bất thƣờng đặc trƣng trong ba lĩnh vực: tƣơng tác xã hội, giao tiếp và những hành vi định hình lặp lại. Rối loạn này thƣờng xuất hiện ở bé trai nhiều hơn.” Khái niệm “tự kỉ” của Liên hiệp quốc trong nghị quyết A/RES/62/139 ngày 21/01/2018: “Tự kỉ là một loại khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời, thƣờng đƣợc thể hiện ra ngoài trong ba năm đầu đời, là hệ quả của rối loạn thần kinh ảnh hƣởng đến hoạt động của não bộ, ảnh hƣởng đến trẻ em ở nhiều quốc gia không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội, và đƣợc đặc trƣng bởi khiếm khuyết trong tƣơng tác xã hội, các vấn đề về giao tiếp bằng lời nói và không lời, và có các hành vi, sở thích hạn hẹp và định hình lặp lại.” Các khái niệm tuy có khác nhau, nhƣng đều đồng nhất trong các nội dung cốt lõi của khái niệm tự kỉ: Tự kỉ là một rối loạn phát triển, đƣợc đặc trƣng bởi các khiếm khuyết cốt lõi nhƣ hạn chế về giao tiếp xã hội, hành vi bất thƣờng và sở thích mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại. Mặc dù, rối loạn phổ tự kỉ có những đặc điểm tƣơng đối giống nhau nhƣng phạm vi, mức độ, khởi phát và tiến triển của các triệu chứng có khác nhau [2, trag 17]. Khái niệm về can thiệp sớm Can thiệp sớm là những chỉ dẫn ban đầu và các dịch vụ dành cho trẻ và gia đình trẻ khuyết tật trƣớc tiểu học nhằm kích thích và huy động sự phát triển tối đa của trẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hệ thống giáo dục bình thƣờng và cuộc sống sau này [8].
Can thiệp cho TTK càng sớm càng tốt và nên bắt đầu khi phát hiện ra trẻ có những dấu hiệu bất thƣờng. Can thiệp sớm giảm thiểu ảnh hƣởng của tật đối với sự phát triển của TTK và tận dụng tối đa cơ hội cho trẻ tham gia các 13 hoạt động bình thƣờng từ khi còn nhỏ. Can thiệp sớm thể hiện chức năng chữa bệnh nhƣ ngăn chặn các điều kiện, rủi ro hoặc những phát triển bất thƣờng do ảnh hƣởng của khuyết tật, can thiệp sớm có thể ngăn ngừa những nhân tố gây nguy hiểm tới đứa trẻ hay những nguyên nhân dẫn tới sự chậm phát triển hoặc rối loạn chức năng. Điều này có thể đạt đƣợc bằng cách cho trẻ có đƣợc sự kích thích bằng các phƣơng tiện hỗ trợ và sự tác động qua lại với môi trƣờng xung quanh ngay ở giai đoạn đầu của sự phát triển.
Can thiệp sớm sẽ giảm ảnh hƣởng của những bệnh mãn tính và khuyết tật chức năng lâu dài, ngăn chặn sự xuất hiện của một tật thứ hai do hậu quả của tật thứ nhất gây nên.3 Khái niệm hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ Hoạt động CTS cho TTK về bản chất đó là tập hợp con của hoạt động giáo dục. Bởi hoạt động GD cho ngƣời tự kỉ là hoạt động xuyên suốt cuộc đời của ngƣời tự kỉ. Ở gốc độ của đề tài này chỉ nghiên cứu một giai đoạn trong quá trình ấy. - Về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài ngƣời.
- Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tƣợng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách. Dù tiếp cận ở góc độ và phạm vi nào cũng có thể hiểu hoạt động giáo dục có những đặc trƣng sau: + Đây là hoạt động có mục đích, có tổ chức, diễn ra trong mối quan hệ tƣơng tác giữa nhà giáo dục và đối tƣợng giáo dục. + Mục đích của hoạt động giáo dục là phát triển nhân cách của đối tƣợng giáo dục theo chiều hƣớng mong muốn của xã hội, giúp đối tƣợng giáo dục có thể hoà nhập và thích ứng với sự phát triển của xã hội. Nói chung, hoạt động can thiệp sớm cho TTK là những hoạt động 14 thƣờng bắt nguồn từ khả năng và những hạn chế của trẻ, nhằm cải thiện và nâng cao khả năng tƣơng tác xã hội, khả năng thích ứng trong các môi trƣờng khác nhau.
Với các hình thức hoạt động can thiệp sau: - Hoạt động can thiệp cá nhân - Hoạt động can thiệp theo nhóm - Hoạt động khác: Hoạt động trải nghiệm, giao lƣu, văn nghệ, thể dục thể thao,… 1. Khái niệm quản lí giáo dục "Quản lí là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [14]. Nếu xem quản lí là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi hoạt động xã hội, thì quản lí giáo dục cùng là một thuộc tính tất yếu của mọi hoạt động giáo dục có mục đích. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lí giáo dục, song thƣờng ngƣời ta đƣa ra quan niệm quản lí giáo dục theo hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và vi mô.
Quản lí cấp vĩ mô Quản lí vĩ mô tƣơng ứng với khái niệm về quản lí một nền giáo dục (hệ thống giáo dục) và quản lí vi mô tƣơng ứng với khái niệm về quản lí một nhà trƣờng. Ở cấp độ vĩ mô, quản lí giáo dục được hiểu là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia [14]. Nhƣ vậy, quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, 15 phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm làm cho toàn bộ hệ thống giáo dục vận hành theo đƣờng lối nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra. Chủ thể quản lí điều khiển các thành tố trong hệ thống quản lí thông qua hoạt động của các tổ chức thành viên trong hệ thống đó.
Tính chất chỉ huy - chấp hành là đặc trƣng nổi trội trong quan hệ quản lí. Tuy nhiên, chủ thể quản lí và đối tƣợng quản lí đều có mục đích chung. Quản lí giáo dục có nhiệm vụ tạo ra và duy trì một môi trƣờng thuận lợi để mỗi cá nhân có thể hoạt động đạt đƣợc hiệu quả cao trong quá trình đạt đến mục đích chung. Ở cấp độ vi mô "Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí vào hệ thống tổ chức giáo dục của nhà trường nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất" [14].
Tiếp cận theo góc độ điều khiển học, có thể hiểu quá trình quản lí giáo dục là hoạt động tổ chức và điều khiển quá trình giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích, mục tiêu giáo dục của nhà trƣờng. Theo khái niệm trên, quá trình quản lí giáo dục được hiểu như một quá trình vận động của các thành tố có mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong hệ thống tổ chức của nhà trường. Hệ thống đó bao gồm các thành tố cơ bản là: chủ thể quản lí, đối tượng quản lí, nội dung, phương pháp quản lí, mục tiêu quản lí. Các thành tố đó luôn vận động trong mối liên hệ tƣơng tác lẫn nhau, đồng thời diễn ra trong sự chi phối, tác động qua lại với môi trƣờng kinh tế, chính trị, xã hội xung quanh.
Khái niệm quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ. Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu hoạt động CTS cho TTK đƣợc hiểu là quá trình tác động có mục đích của đội ngũ quản lí lên các đối tƣợng quản lí TTK ở các trung tâm nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động can thiệp cho TTK trên cơ sở tối ƣu hóa các nguồn lực. Trong hoạt động can thiệp cho TTK có nhiều khía cạnh cần quan tâm, đó là nội dung chƣơng trình can thiệp, PP can thiệp, hình thức can thiệp, các lực lƣợng tham gia can thiệp… Vì vậy công tác quản lí hoạt động can thiệp cho TTK cần tiến hành một cách đồng nhất trên tất cả các lĩnh vực nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Lí luận về hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ 1.
Mục tiêu của hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ Mục tiêu của hoạt động CTS cho TTK là giúp trẻ thích ứng với các môi trƣờng khác nhau nhƣ: gia đình, nhà trƣờng và xã hội. Cụ thể nó hƣớng đến các mục tiêu sau: * Giúp trẻ phát triển kĩ năng tương tác xã hội Tƣơng tác xã hội là bao gồm các kĩ năng bắt chƣớc, giả vờ, đóng vai hay hội thoại và luôn đi cùng với kĩ năng giao tiếp, giúp trẻ có sự tác động qua lại với những ngƣời xung quanh. Phát triển kĩ năng tƣơng tác xã hội giúp trẻ tự kỉ có thể tự điều chỉnh đƣợc hành vi, kĩ năng, thái độ và giao tiếp với mọi ngƣời một cách phù hợp.