Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CHO BÍ THƯ CHI BỘ TRONG ĐẢNG BỘ QUÂN ĐỘI THÔNG QUA TỔNG KẾT THỰC TIỄN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu về năng lực, bồi dưỡng năng lực cho cán bộ, đảng viên * Các công trình nghiên cứu về năng lực, bồi dưỡng năng lực cho cán bộ, đảng viên Tác giả Trần Khánh Đức (2017), sách “Năng lực học tập và đánh giá năng lực học tập” [15]. Nội dung sách đã bàn đến 3 vấn đề cơ bản: Cơ sở lý luận về năng lực học tập và đánh giá năng lực học tập; kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam về tuyển sinh đại học dựa trên kết quả đánh giá năng lực học tập; Chương trình giáo dục phổ thông và chuẩn đầu ra một số ngành đào tạo khối trường đại học kỹ thuật; phân tích một số môn học trong chương trình hiện hành ở các cấp độ đánh giá năng lực học tập theo môn học; quy trình, công cụ đánh giá năng lực học tập theo môn học.
Theo tác giả năng lực học tập bao gồm “Năng lực tri giác, năng lực thính giác, năng lực tư duy, năng lực ngôn ngữ - giao tiếp, năng lực thích ứng, năng lực hành động - giải quyết vấn đề” [15, tr. Tác giả Trịnh Thúy Giang (2021) với sách “Đánh giá năng lực, phẩm chất học sinh” [16]. Theo các tác giả: Năng lực được chia làm nhiều loại khác nhau: “Năng lực cốt lõi, năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể, năng lực hành động” [16, tr. Phương pháp đánh giá năng lực học sinh các tác giả nêu lên gồm: phương pháp quan sát, phương pháp hỏi - đáp, phương pháp kiểm tra viết, phương pháp đánh giá hồ sơ học tập, phương pháp đánh giá sản phẩm học tập.
Luận án tiến sĩ GDH “Bồi dưỡng năng lực giáo dục cho học viên ở các 6 trường sĩ quan đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới” [28] của tác giả Trương Văn Môn (2020). Từ quan niệm “Năng lực giáo dục là khả năng chuyên biệt của chủ thể giáo dục đảm bảo cho họ thực hiện có hiệu quả các hoạt động giáo dục đáp ứng theo mục tiêu giáo dục đặt ra trong những điều kiện nhất định” [28, tr. Năng lực giáo dục gồm: kiến thức giáo dục, kỹ năng giáo dục, thái độ giáo dục, kinh nghiệm giáo dục và tác giả cho rằng cần thiết phải bồi dưỡng Năng lực giáo dục bởi người cán bộ Quân đội ra trường với tư cách là nhà giáo dục. Bồi dưỡng các kỹ năng thực hành giáo dục (kỹ năng nắm đối tượng giáo dục, kỹ năng vận dụng các phương pháp giáo dục quân nhân, kỹ năng xử lý các tình huống giáo dục, kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục ở đơn vị.
Bồi dưỡng thái độ hành vi chuẩn mực (thái độ hành vi gương mẫu về đạo đức lối sống, thái độ hành vi có trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, thái độ hành vi khiêm tốn giản dị. * Các công trình nghiên cứu về kiểm tra, giám sát Trong những năm gần đây, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về CTKT, GS của Đảng của cán bộ lãnh đạo quản lý, các nhà khoa học, cán bộ, giảng viên trong nhà trường Quân đội: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác KT, GS ở đảng bộ cơ sở trong Quân đội hiện nay” [5], Bùi Quang Cường (2009), Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 5 (117). Tác giả đã luận giải khái quát vị trí, tầm quan trọng của công tác KT, GS ở đảng bộ cơ sở trong quân đội, những ưu điểm và khuyết điểm, hạn chế của công tác KT, GS ở đảng bộ cơ sở trong quân đội theo tinh thần Nghị quyết 147- NQ/ĐU và chỉ thị 316/CT của Đảng ủy Quân sự Trung ương. Chỉ rõ nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, khuyết điểm và đề xuất năm giải pháp cơ bản nhằm khắc phục một số hạn chế và nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác KT, GS ở các đảng bộ cơ sở trong quân đội hiện nay.
“Công tác kiểm tra, giám sát của đảng ủy các hệ, tiểu đoàn quản lý học 7 viên ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay” [36], Phạm Quang Thanh (2010), Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, Học viện Chính trị. Tác giả đã phân tích làm rõ mục đích và yêu cầu, nhiệm vụ cần đạt được trong công tác KT, GS; nội hàm về công tác KT, GS; nội dung, hình thức; xác định chủ thể, lực lượng trực tiếp tiến hành thực hiện công tác KT, GS của các đảng ủy hệ, tiểu đoàn quản lý học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị; những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác KT, GS; đánh giá làm rõ những ưu điểm đã đạt được và chỉ rõ những khuyết điểm, hạn chế còn tồn tại để rút ra một số kinh nghiệm khi tiến hành công tác KT, GS; dự báo một số yếu tố có thể tác động, xây dựng khung tiêu chí đánh giá và đề xuất năm giải pháp cơ bản trong tiến hành công tác KT, GS của các đảng ủy hệ, tiểu đoàn quản lý học viên ở Trường Sĩ quan Chính trị trong thời gian tiếp theo. Các nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng năng lực cho cán bộ, đảng viên Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc (2021) "Quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ quản lý các trường trung học phổ thông vùng Đồng bằng sông Hồng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” [30]. Tác giả quan niệm: "Thực chất bồi dưỡng CBQL trong các trường trung học phổ thông là quá trình xây dựng và bồi dưỡng các yếu tố cơ bản, như: bổ sung kiến thức, rèn kỹ năng, kỹ xảo, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ quản lý; năng lực, kỹ năng quản lý; phương pháp, tác phong công tác để nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp của người CBQL giáo dục” [30, tr.
Kết quả nghiên cứu đã xác định mục tiêu, hình thức phương pháp, lực lượng bồi dưỡng; trong đó chương trình bồi dưỡng có nội dung bồi dưỡng bắt buộc và nội dung bồi dưỡng tự chọn [30, tr. Luận văn thạc sĩ QLGD của tác giả Trần Văn Nam (2022) “Quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho cán bộ hậu cần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Học viện Hải quân hiện nay” [29]. Tác giả quan niệm “Bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho cán bộ hậu cần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ 8 của Học viện Hải quân hiện nay là tổng thể các chủ trương, biện pháp, cách thức do cấp ủy Đảng, cán bộ chủ trì và các tổ chức các lực lượng tiến hành nhằm tác động toàn diện vào các khâu, các bước từ xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá kết quả đạt được đối với năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ Hậu cần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, chức trách được giao” [29, tr. Kết quả nghiên cứu của luận văn đã đề xuất sáu biện pháp bồi dưỡng gồm: Nâng cao nhận thức, phát huy vai trò trách nhiệm các tổ chức, các lực lượng trong quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho cán bộ hậu cần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Học viện Hải quân hiện nay; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho cán bộ hậu cần; tăng cường công tác quản lý, có kế hoạch sử dụng, có chính sách hợp lý đối với cán bộ hậu cần; kết hợp chặt chẽ việc bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho cán bộ hậu cần với nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy vai trò tự giáo dục, tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ hậu cần.
Bài báo khoa học "Lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình giáo dục nhà trường” (2024) của tác giả Hoàng Bá Hạnh [17] cho rằng, để thực hiện được chương trình giáo dục phổ thông 2018 có kết quả vấn đề đặt ra cấp thiết là bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình đào tạo cho đội ngũ CBQL giáo dục [17, tr. Thông qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn cho thấy, cho đến nay vấn chưa có bất kỳ công trình khoa học nào nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ khoa học quản lý giáo dục về “Quản lý bồi dưỡng năng lực kiểm tra, giám sát cho bí thư chi bộ tại Học viện Hải quân thông qua tổng kết thực tiễn”. Do đó, hướng triển khai nghiên cứu của tác giả là độc lập và không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công bố; thiết thực góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới. Lý luận về bồi dưỡng năng lực kiểm tra, giám sát cho bí thư chi bộ trong các đảng bộ nhà trường Quân đội 1.
Các Khái niệm chủ yếu 1. Khái niệm Năng lực kiểm tra, giám sát của bí thư chi bộ * Khái niệm năng lực Năng lực theo Tâm lý học đó là “tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. Khi nói tới năng lực cũng đồng nghĩa với “tài”, còn phẩm chất thì đồng nghĩa với “tâm”, “đức”. Các quan niệm trên đều thống nhất cho rằng, năng lực bao giờ cũng gắn với con người cụ thể hoặc tập thể người.
Năng lực là trình độ thực tế và khả năng của con người trong hoạt động, được đánh giá bằng kết quả hoạt động thực tiễn. Bởi vậy, khi xem xét năng lực luôn phải gắn với đặc điểm riêng, với đặc thù của mỗi loại việc. Đánh giá trình độ năng lực không chỉ căn cứ vào trình độ học vấn, bằng cấp mà phải xem xét trên cơ sở tổng hợp nhiều yếu tố, phải trong cả quá trình. * Khái niệm Năng lực kiểm tra, giám sát của bí thư chi bộ Quyết định số 22-QĐ/TW ngày 28/7/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng” [1].