CHƯƠNG 1: NGHĨA VỤ TRUNG THỰC, CẨN TRỌNG CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ANH – MỸ 1. Người quản lý công ty Doanh nghiệp chính là một trong những hạt nhân quan trọng thúc đẩy nền kinh tế và góp phần phát triển xã hội nói chung. Trong những yếu tố góp phần định hình nên sự thành công của một công ty, không thể bỏ qua nhân lực quản trị; bởi công ty, với bản chất là tập thể, muốn vận hành phát triển tốt và có chiến lược cụ thể cần phải có những cá nhân lãnh đạo hoặc phụ trách theo sát kế hoạch đề ra. Chặng đường phát triển các chức danh quản lý, điều hành, giám sát hoạt động của một công ty đã ghi dấu từng bước trong lịch sử pháp lý.
Các công ty đã sản sinh ra các chức danh như giám đốc hoặc thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) để bầu các cá nhân đảm nhận trách nhiệm quản lý. Tuy nhiên đến tận cuối thế kỷ 19, nhiều người còn mơ hồ về tầm quan trọng của các cá nhân này đối với công ty, họ thường cho rằng Đại hội đồng cổ đông mới là cơ quan tối cao của một công ty và HĐQT chịu sự kiểm soát bởi Đại hội đồng này.20 Mãi đến năm 1906, Tòa phúc phán quyết vụ Automatic Self-Cleansing Filter Syndicate Co Ltd v Cuninghame 21 thể hiện rõ ràng rằng việc phân chia quyền lực giữa HĐQT và Đại hội đồng cổ đông phụ thuộc vào Điều lệ công ty, các điều khoản dành cho HĐQT, và nếu quyền quản lý được trao cho HĐQT, Đại hội đồng cổ đông không thể can thiệp vào việc thực thi hợp pháp của các giám đốc dành cho công ty. Do đó, giám đốc được độc lập quản lý công ty theo đúng chức năng và nhiệm vụ được giao. Tận đầu thế kỷ 21 thì quản trị công ty mới được quan tâm một cách thấu đáo sau hàng loạt vụ sụp đổ doanh nghiệp trên toàn cầu.
Kể từ đó, vai trò người quản lý công ty – dẫn dắt cả một doanh nghiệp hay tập đoàn cất từng bước đi trên thị trường – cũng dần được quan tâm sâu sát, kéo theo đó là những nghĩa vụ đặt ra với những người này để công ty thêm vững mạnh, tránh những rủi ro không đáng có. 20 Gower (1997), Principles of Modern Company Law, Sweet & Maxwell Ltd; 6Rev Ed edition, citing Isle of Wight Rly Co v Tahourdin (1884) LR 25 Ch D 320 21 Án lệ Automatic Self-Cleansing Filter Syndicate Co Ltd v Cuninghame (1906) 2 Ch 34 11 Cho đến nay, pháp luật về người quản lý cũng như hệ thống quản lý doanh nghiệp đã được phát triển một cách bền vững và chi tiết hơn. Người quản lý công ty có thể được gọi là Giám đốc, Tổng giám đốc, thành viên HĐQT cho đến trưởng phòng ban… theo hệ thống quản lý một tầng hay hai tầng tùy cách sắp xếp của công ty và văn hóa quản trị doanh nghiệp của quốc gia sở tại. 22 Các quản lý sẽ điều hành hoạt động thường ngày của công ty cho đến hoạch định những chiến lược có tính chất quan trọng, ảnh hưởng đến sự “sống còn” của công ty.
Một số lý thuyết liên quan đến trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng của người quản lý công ty Từ khi quyền sở hữu và quyền quản lý trong doanh nghiệp bị tách rời ra, 23 khiến cho người quản lý công ty không còn phải là chủ sở hữu của công ty, người ta bắt đầu đặt ra quyền hạn cho những nhà quản lý. Bởi theo học thuyết của Tuân Tử từ phương Đông “Nhân chi sơ tính bổn ác” hay lý thuyết quản trị học mà Doughlas Mc Gregor24 đưa ra, con người có xu hướng tư lợi và do đó họ cần phải được kiểm soát khi được trao một công việc liên quan đến lợi ích của một tập thể. Lý thuyết người đại diện (“agency theory”) cho rằng chức danh “quản lý” có thể được xem là một công việc,25 một nghề và vị trí này được ứng tuyển bởi những người có năng lực phù hợp, do đó trong quá trình quản lý hay xảy ra những xung đột giữa các chủ thể.26 Tư tưởng này được thể hiện và diễn giải rõ hơn bởi Adam Smith. Trong tác phẩm “Sự giàu có của các quốc gia”, ông đã chỉ ra rằng: “Là người quản lý tiền bạc của người khác chứ không phải của chính họ, cho nên chúng ta không thể kỳ vọng rằng những người quản lý sẽ cẩn thận, lo lắng cho tiền bạc của chúng ta giống như cách mà họ lo lắng cho 22 OECD (2008), Using the OECD Principles of Corporate Governance - A Boardroom Perspective, p.15 23 Leslie Hannah (2007), The ‘Divorce’ of Ownership from Control from 1900 Onwards: Re-Calibrating Imagined Global Trends, Business History, 49(4): pp.
24 Trong quyển The Human Side of Enterprise được xuất bản năm 1960, Mc Gregore đã giới thiệu cho độc giả về thuyết X (những người lao động biếng nhác, không hứng thú làm việc, là nhóm người cần “cây gậy” lẫn “cà rốt” như một cơ chế thưởng – phạt để đốc thúc họ luôn làm việc) và thuyết Y (những nhân viên có ý thức, tinh thần làm việc và thích làm việc). Qua nghiên cứu, ông cũng rút ra rằng con người là một động vật đầy ham muốn và sẽ không bao giờ được thỏa mãn. 25 Kent Baker and Ronald Anderson (2011), Corporate Governance: A synthesis of Theory, Research and Practice, Wiley Public House, p. 26 Usha Rodrigues (2005), From loyalty to conflict: addressing fiduciary duty at the officer level, Florida Law Review, Vol.
12 tiền bạc của họ. Do đó sự bất cẩn luôn áp đảo, không ít thì nhiều, trong việc quản lý doanh nghiệp.”27 Do vậy, người quản lý công ty khi nhận được sự ủy thác, phải thể hiện được nghĩa vụ của mình đối với sự ủy thác, tín nhiệm đó (“fiduciary duty”).28 Ngược lại với những thuyết trên, lý thuyết người quản gia (“stewardship theory”) được sinh ra để bảo vệ người quản lý công ty. Theo thuyết này thì hoạt động công ty không chỉ lấy lợi nhuận làm mục đích duy nhất mà còn kiến tạo những giá trị cao cả hơn như uy tín, địa vị… Những giá trị này có thể thúc đẩy người quản lý công ty hành động tốt hơn thay vì cho rằng họ chỉ trục lợi cho riêng mình. Chính vì vậy, lý thuyết người quản gia thể hiện sự tin tưởng nhất định rằng người quản lý công ty trong điều kiện được tự do hành động thì vẫn sẽ lựa chọn hành động giống như người quản gia đối với công ty cùng các tài sản mà họ được đại diện quản lý.
Tuy nhiên lý thuyết này lại nhiều ý kiến trái chiều vì trao đi quá nhiều sự tin tưởng mà không có cơ sở đảm bảo, mặt khác mối quan hệ giữa công ty và người quản lý không bằng phẳng mà có thể tiềm ẩn những yếu tố cảm tính tác động vào.29 Với những phát hiện gần đây phù hợp với sự phát triển quản trị kinh doanh, “cây gậy” hay “củ cà rốt” trao cho nhà quản lý cần phải được cân bằng. Bởi lẽ, bên cạnh việc mong muốn hoàn thành tốt chức năng quản lý thì những cản trở trong tâm lý nhà quản lý khi thực hiện nghĩa vụ lại được khai thác thêm. “Lòng tham không phải cảm xúc duy nhất ở con người để dẫn người ta ra khỏi phương hướng đúng đắn”,30 một nhà quản lý không dám đối diện với rủi ro trong kinh doanh, rụt rè trong việc đưa ra quyết định dẫn đến xói mòn chức năng của mình, khi anh ta cảm thấy có thể anh ta sẽ phải tự chịu trách nhiệm với những quyết định mà mình đưa ra nếu sau này nó được chứng minh là quyết định sai lầm, 31 từ đó đưa ra phản ứng tương xứng là né tránh trước mọi đe dọa.32 Do đó, tiền đề cho rằng kiềm chế ham 27 Adam Smith (1776), The Wealth of Nations: An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations, London edition, p. Johnson & David Millon (2005), Recalling Why Corporate Officers are Fiduciaries, 46 Wm.
29 Lex Donaldson & James H. Davis (1991), Stewardship Theory or Agency Theory: CEO Governance and Shareholder Returns, Australian Journal of Management, June, Vol. 30 Án lệ Credit Lyonnais Bank Nederland, NV v. Pathe Communications, Inc, Civil No 12150, Del Ch, Dec 30, 1991, at 108 (1991 WL 277613).
31 Victoria Stace (2016), Directors’ liability in negligence to third parties: Challenging the assumption of responsibility approach, Oxford University Commonwealth Law Journal, p. 186 32 Án lệ Unocal Corp v Mesa Petroleum Co, (1985) 493 A 2d 946 (De1).) at 954 cho thấy đã tồn tại “'bóng ma” ám ảnh khắp nơi rằng một HĐQT có thể hoạt động chủ yếu vì lợi ích của mình, thay vì lợi ích của công ty và các cổ đông của nó. 13 muốn tư lợi hoặc là tin tưởng tuyệt đối về sự lãnh đạo của nhà quản lý sẽ nâng cao sự cẩn thận ở họ không còn là nền tảng duy nhất, mà thêm vào đó, luật pháp cần phải khai thác ở khía cạnh kinh doanh để nhà quản lý thực hiện tốt vai trò của mình. Vậy đâu là nền tảng về tiêu chuẩn ứng xử mà luật pháp có thể ràng buộc người quản lý công ty hành động vì lợi ích của doanh nghiệp? Một quan điểm được nhiều học giả ủng hộ và vẫn là quan điểm phổ biến nhất cho đến hiện nay, rằng trong quá trình điều hành, một người quản lý sẽ phải đáp ứng điều kiện cần là hội tụ đủ tính hợp pháp, tính trung thực và tính cẩn trọng trong hành động của mình, 33 và điều này đã được nâng thành nghĩa vụ tại nhiều quốc gia.34 Đầu tiên là sự trung thực thiện chí (“good faith”).
Sự trung thực được xem là một thành tố quan trọng để hoàn thiện lòng trung thành (“loyalty”) của người quản lý đối với doanh nghiệp.35 Có lòng trung thành, người quản lý sẽ gắn bó với doanh nghiệp, hành động một cách thiện chí nhằm thúc đẩy lợi ích tốt nhất và tránh những hành vi gây tổn hại cho công ty, bất chấp những biến đổi tác động. Tiếp theo là đức tính cẩn trọng (“due care”). Một giám đốc phải thể hiện sự siêng năng, mẫn cán và hạn chế các bất lợi trong quá trình quản trị công ty36 để được xem là có cẩn trọng. Tính cẩn trọng sẽ hỗ trợ các nhà quản lý cân nhắc kỹ lưỡng và nhận đủ sự chấp thuận từ nhà đầu tư trước khi tham gia vào các giao dịch bị kiểm soát do tư lợi hoặc có nguy cơ bị cấm.
Ngược lại, người quản lý nếu vượt quá phạm vi quyền hạn của mình hoặc hành động cẩu thả thì có thể gây nguy hiểm cho công ty, các bên hữu quan và dẫn đến phải tự chịu trách nhiệm.