CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ LỢI TỨC CỔ PHIẾU THƯỜNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI TỨC CỔ PHIẾU THƯỜNG 1. Tổng quan về lợi tức cổ phiếu thường Lợi tức chứng khoán là lợi nhuận mà nhà đầu tư nhận được từ việc sở hữu và giao dịch chứng khoán. Có hai loại lợi tức chính khi đầu tư chứng khoán: lợi tức từ cổ tức và lợi tức từ tăng giá chứng khoán.
Lợi tức từ cổ tức là số tiền mà một công ty trả cho cổ đông từ lợi nhuận đạt được. Cổ tức thường được trả hàng năm hoặc theo khoảng thời gian cụ thể. Cổ tức tùy thuộc vào hiệu suất kinh doanh và quyết định của công ty. Lợi tức từ tăng giá chứng khoán xảy ra khi giá trị của một cổ phiếu tăng lên so với giá mua ban đầu của nhà đầu tư.
Nhà đầu tư có thể bán chứng khoán để thu về lợi nhuận từ sự tăng giá này. Lợi tức chứng khoán được ước tính dựa trên nhiều yếu tố, bao gồm tình hình kinh tế, hiệu suất công ty, thị trường chứng khoán và các yếu tố khác. Quá trình đầu tư chứng khoán có thể mang lại lợi tức cao nhưng cũng gắn liền với rủi ro. Lợi tức chứng khoán là một khoản thu nhập mà các nhà đầu tư nhận được từ việc nắm giữ các chứng khoán, như cổ phiếu hoặc trái phiếu.
Lợi tức chứng khoán có thể bao gồm các khoản tiền thưởng, lãi suất, cổ tức hoặc lợi nhuận từ việc bán chứng khoán. Đối với cổ phiếu, lợi tức chủ yếu bao gồm cổ tức mà công ty trả cổ đông. Đối với trái phiếu, lợi tức chủ yếu bao gồm lãi suất mà người nắm giữ trái phiếu nhận được từ công ty phát hành trái phiếu. Quyết định đầu tư vào chứng khoán thường phụ thuộc vào ước tính về lợi tức và tỷ suất sinh lời mà nhà đầu tư có thể nhận được từ việc nắm giữ chứng khoán đó.
Lợi tức cổ phiếu thường là các khoản thu nhập đạt được từ hoạt động đầu tư cổ phiếu thường. Thu nhập từ đầu tư cổ phiếu thường bao gồm cổ tức cổ phiếu thường và thu nhập từ chênh lệch giá. Lợi tức cổ phiếu thường được đo lường bằng số tuyệt đối như sau: Thu nhập từ đầu tư cổ phiếu thường = Cổ tức cổ phiếu thường + Giá bán – Giá mua Lợi tức cổ phiếu thường được đo lường bằng số tương đối như sau 1 Thư viện ĐH Thăng Long Lợi tức cổ phiếu thường Cổ tức cổ phiếu thường + Giá bán – Giá mua = (SR) Giá mua 1. Các lý thuyết và mô hình phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến lợi tức cổ phiếu thường 1.
Lý thuyết thị trường vốn và mô hình định giá tài sản tài chính (CAPM) Lý thuyết thị trường vốn mở rộng lý thuyết danh mục đầu tư và phát triển mô hình định giá cho tất cả các tài sản rủi ro. Sản phẩm cuối cùng là mô hình định giá tài sàn vốn – Capital Asset Pricing Model (CAPM). Mô hình này cho phép nhà đầu tư xác định tỷ suất lợi tức kỳ vọng cho bất kỳ tài sản rủi ro nào. Những giả định của lý thuyết thị trường vốn như sau: Thứ nhất là những giả định về tâm lý các nhà đầu tư bao gồm: Các nhà đầu tư khi đưa ra quyết định của mình đều dựa trên việc phân tích 2 yếu tố là lợi suất và rủi ro của chứng khoán.
Các nhà đầu tư sẽ tìm cách giảm thiểu rủi ro bằng cách kết hợp nhiều chứng khoán khác nhau trong tập hợp danh mục đầu tư của mình. Các quyết định đầu tư được đưa ra và kết thúc, các nhà đầu tư có chung các kỳ vọng về thông số đầu vào sử dụng để tạo lập danh mục đầu tư hữu hiệu. Đó là các thông số như mức lợi suất, độ rủi ro hay các quan hệ tương hỗ. Thứ hai là những giả định về thị trường vốn: Thị trường vốn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, điều này có nghĩa là trên thị trường có rất nhiều người bán và người mua.
Giá cả trên thị trường chỉ chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ cung cầu. Không tồn tại các loại phí giao dịch trên thị trường hay bất kỳ một sự cản trở nào trong cung và cầu của một chứng khoán. Trên thị trường tồn tại loại chứng khoán không có rủi ro mà nhà đầu tư có thể đầu tư. Hơn thế nữa, nhà đầu tư có thể vay với lãi suất không rủi ro.
Nói cách khác lãi suất và lãi suất cho vay cùng bằng nhau và bằng lãi suất không rủi ro. Trên cơ sở những giả định về lý thuyết thị trường vốn, ba nhà kinh tế William Sharpe, John Lintnet và Jack Treynor phát triển mô hình CAPM nhằm mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng. Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán bằng lợi nhuận phi rủi ro (risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống của chứng khoán đó. 2 Giả định của mô hình CAPM như sau: Các nhà đầu tư đánh giá danh mục chứng khoán dựa trên thu nhập kỳ vọng và độ lệch chuẩn của danh mục trong giới hạn một khoảng thời gian; Nhà đầu tư không bao giờ thỏa mãn; Các nhà đầu tư là những người ngại rủi ro; Các chứng khoán có thể phân chia vô hạn; Có một mức lãi suất không rủi ro mà nhà đầu tư có thể vay hoặc cho vay không hạn chế; Không xem xét các yếu tố thuế và chi phí giao dịch trong mô hình; Thời kỳ phân tích giống nhau giữa tất cả các nhà đầu tư; Mức lãi suất không rủi ro được áp dụng cho tất cả các nhà đầu tư; Các thông tin trên thị trường là miễn phí và sẵn có đối với tất cả các nhà đầu tư; Các nhà đầu tư có kỳ vọng đồng nhất, họ có cùng nhận thức và quan điểm về thu nhập kỳ vọng, độ lệch chuẩn và đồng phương sai của các chứng khoán.
Trong mô hình CAPM độ rủi ro của mỗi chứng khoán không được đo bằng độ lệch chuẩn vì một phần của độ lệch chuẩn đã bị triệt tiêu bởi sự đa dạng hóa danh mục đầu tư. 3 Thư viện ĐH Thăng Long Đường thị trường chứng khoán Lợi nhuận M E(RM) Khoản gia tăng bù đắp rủi ro RF Lợi nhuận phi rủi ro 0 1 β 1. Lý thuyết định giá kinh doanh chênh lệch giá và mô hình đa nhân tố Lý thuyết định giá kinh doanh chênh lệch có thể hiểu đơn giản nhất đây là lý thuyết định giá tài sản đa yếu tố dựa trên ý tưởng rằng, lợi nhuận của một tài sản có thể được dự đoán bằng cách sử dụng mối quan hệ tuyến tính giữa lợi nhuận kì vọng của tài sản và một số biến kinh tế vĩ mô có rủi ro hệ thống. Lý thuyết định giá kinh doanh chênh lệch là một công cụ hữu ích để phân tích danh mục đầu tư từ góc độ đầu tư theo giá trị, mục đích để xác định chứng khoán có thể tạm thời bị định giá sai.
Lý thuyết định giá kinh doanh chênh lệch cho rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản tài chính có thể được đo lường thông qua các yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau hoặc là yếu tố thị trường. Sự nhạy cảm của tài sản với sự thay đổi trong mỗi yếu tố được đại diện bằng đại lượng xác định gọi là hệ số beta. Xuất phát từ lý thuyết này, mô hình xác định tỷ suất sinh lợi cho các chứng khoán đã được sử dụng để định giá tài sản một cách chính xác và giá của tài sản phải bằng với mức kỳ vọng vào cuối giai đoạn đầu tư chiết khấu về hiện tại với mức chiết khấu được tính toán trong mô hình. Nếu theo các giá khác nhau, cơ hội kinh doanh chênh lệch sẽ đưa nó về lại đúng đường thẳng như mô hình.
Khi nhà đầu tư nắm giữ tài sản và bán khống danh mục hoặc ngược lại, nhà đầu tư đang tạo ra một vị thế có tỷ suất sinh lợi kỳ vọng dương cụ thể đó chính là sự khác biệt giữa tỷ suất sinh lợi tài sản và tỷ suất sinh lợi danh mục. Nhà kinh doanh chênh lệch ở vào vị thế kiếm lợi nhuận phi rủi ro. 4 Mô hình APT đòi hỏi 4 giả định sau: Tỷ suất sinh lợi có thể được mô tả bằng một mô hình nhân tố; Không có các cơ hội kinh doanh chênh lệch; Có một lượng chứng khoán đủ lớn để có thể xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng hóa tốt, loại bỏ các rủi ro riêng có của các chứng khoán đơn lẻ; Thị trường tài chính là hiệu quả. Mô hình đa nhân tố cho rằng giá cả/lợi suất chứng khoán thay đổi tùy thuộc vào rất nhiều nhân tố chứ không riêng gì một hoặc hai nhân tố.
𝒏 𝑹𝒑 = 𝑹𝑭 + ∑ (𝜷𝒊,𝒋 ∗ 𝑹𝑷𝒋 ) + 𝜺𝒊 𝒊,𝒋=𝟏 Trong đó: βi,j : là độ nhạy của chứng khoán i với yếu tố j RPj: là phần bù rủi ro/giá trị của yếu tố j so với Rf. Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi suất chứng khoán, theo APT, là các nhân tố vĩ mô. Theo Richard Roll và Stephen A. Ross cho rằng có 5 nhân tố quan trọng quyết định lợi nhuận cổ phiếu là: Sự thay đổi tỷ lệ lạm phát kỳ vọng; Sự thay đổi bất ngờ của tỷ lệ lạm phát; Sự thay đổi bất ngờ của tình hình sản xuất trong ngành; Sự thay đổi bất ngờ của chênh lệch lợi tức giữa trái phiếu xếp hạng thấp và trái phiếu xếp hạng cao; Sự thay đổi bất ngờ chênh lệch lợi tức giữa trái phiếu ngắn hạn và trái phiếu dài hạn.
Ba yếu tố đầu ảnh hưởng đến dòng tiền tệ thu nhập của công ty, do đó, ảnh hưởng đến cổ tức và tốc độ gia tăng cổ tức. Hai yếu tố sau cùng ảnh hưởng đến giá trị thị trường hoặc tỷ suất chiết khấu. Ngoài ra, còn tùy thuộc vào nền kinh tế hay chính bản chất cổ phiếu mà có thể có nhiều yếu tố khác. Có thể xét tới là: Rủi ro chu kỳ kinh doanh; Rủi ro niềm tin nhà đầu tư; Biến động lãi suất ngắn hạn; Thay đổi sự chênh lệch giữa lãi suất ngắn hạn và lãi suất dài hạn; Sự thay đổi trong giá vàng hoặc giá các kim loại quý khác; Sự thay đổi giá yếu tố đầu vào quan trọng (dầu mỏ, .); Sự thay đổi tỷ giá hối đoái… Tuy CAPM và APT khác nhau về cách tiếp cận ban đầu, nhưng có thể nhận thấy CAPM thực chất chỉ là một hình thức đặc biệt, thực chất là đơn giản nhất, của APT khi chỉ sử dụng một biến duy nhất là mức đền bù rủi ro thị trường.